Đặt vấn đề Trong đời sống hiện nay, con người đối mặt với nhiều thử thách như áp lực công việc, ô nhiễm môi trường, việc sử dụng thiếu kiểm soát các chất gây độc hại, sự biến đổi khí hậu. Các tác động này ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người biểu hiện qua những chứng bệnh có nguyên nhân từ sự hình thành một lượng lớn các gốc tự do trong cơ thể do quá trình oxy hóa dưới tác động của môi trường sống tạo ra (Jan et al. Trong cơ thể người, gốc tự do có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất và chuỗi hô hấp tế bào, đồng thời nó còn có vai trò trong hệ thống miễn dịch (Dröge, 2002). Khi cơ thể khỏe mạnh, các gốc tự do tham gia vào các quá trình chuyển hóa có lợi cho cơ thể.
Tuy nhiên, khi số lượng các gốc tự do tăng cao ngoài sự kiểm soát của cơ thể do các yếu tố tác động từ môi trường, căng thẳng, sử dụng thuốc … chúng sẽ gây nhiều tác hại (Dröge, 2002), hậu quả có thể dẫn đến các chứng bệnh như bệnh tim mạch, tiểu đường, tiêu hóa, xương khớp, hô hấp, rối loạn chuyển hóa, làm tổn thương một số bộ phân chức năng như gan, thận, thần kinh … (Langseth, 1995). Các chất chống oxy hóa có khả năng ngăn chặn hiệu quả sự hình thành các gốc tự do. Do đó, chúng đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh mãn tính (Liu et al. Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu tập trung vào khám phá các hợp chất chống oxy hóa an toàn và hiệu quả.
Chất chống oxy hóa có nguồn gốc chiết xuất từ thực vật được ưa chuộng do có hoạt tính sinh học và an toàn hơn những chất chống oxy hóa tổng hợp (Mohsen and Ammar, 2009). Chính vì vậy, khuynh hướng của những năm gần đây là khai thác và sử dụng các thực phẩm có chất chống oxy hóa tự nhiên giúp cải thiện sức khỏe phòng ngừa và chữa trị bệnh tật mà không gây tác dụng phụ khác so với sử dụng thuốc (Chua et al. Đậu nành từ lâu được biết là một nguồn nguyên liệu giàu nhóm hợp chất polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa, với lượng isoflavone cao có thể giảm nguy cơ mắc một số bệnh do quá trình oxy hóa trong cơ thể gây ra. Tuy nhiên, sự hiện diện tự nhiên của chất kháng dinh dưỡng như các chất ức chế trypsin, acid phytic và oligosaccharide khó tiêu hoá đã hạn chế sự tiêu thụ của các chất dinh dưỡng trong đậu nành (Jiang et al.
Vì vậy, việc cải tiến phương pháp chế biến có thể là một cách hiệu quả để cải thiện các thành phần có hoạt tính sinh học, giúp tăng cường sức khoẻ và giảm các hợp chất không mong muốn ban đầu có trong đậu nành, để hỗ trợ phát triển sản phẩm đậu nành. 1 Quá trình nẩy mầm là một hoạt động trao đổi chất mạnh mẽ, kết hợp các quá trình như hô hấp, thay đổi cấu trúc ở mức độ tế bào, tổng hợp phân tử và thủy phân, sự chuyển đổi của các protein, lipid và carbohydrate để hỗ trợ việc thành lập cây con (Jiang et al. Nẩy mầm được xem là phương thức rẻ tiền và đơn giản để nâng cao giá trị dinh dưỡng của đậu nành, làm tăng hiệu quả sử dụng chúng. Tuy nhiên, ảnh hưởng của quá trình nẩy mầm trên các thành phần hoạt tính sinh học thay đổi rất nhiều với điều kiện nẩy mầm khác nhau (Jiang et al, 2013).
Đặc biệt, sự thay đổi các thành phần này sau khi chế biến thành các sản phẩm thực phẩm hoàn toàn chưa được biết rõ. Do đó, việc nghiên cứu các biến đổi về thành phần cũng như thử nghiệm in-vivo khả năng chống oxy hóa của các sản phẩm từ đậu nành nẩy mầm trên cơ thể sống là tiền đề nâng cao giá trị dinh dưỡng và chức năng cho các sản phẩm truyền thống từ đậu nành, làm tăng giá trị sử dụng cho nguồn nguyên liệu đậu nành dồi dào ở ĐBSCL. Đồng thời, các sản phẩm tạo ra giúp cải thiện tình trạng sức khỏe và bảo vệ người tiêu dùng tránh một số bệnh do tác hại từ môi trường sống.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát Tuyển chọn giống đậu nành được trồng phổ biến ở ĐBSCL có hoạt tính chống oxy hóa cao cùng với điều kiện nẩy mầm tối ưu để sử dụng trong chế biến một số sản phẩm thực phẩm truyền thống có giá trị dinh dưỡng cao và tính chất chức năng được cải thiện hiệu quả thông qua thử nghiệm in–vivo.2 Mục tiêu cụ thể Xây dựng qui trình trích ly polyphenol và khảo sát khả năng chống oxy hóa trong hạt đậu nành nhằm tuyển chọn giống đậu nành tốt nhất làm nguyên liệu chế biến sữa đậu nành và tàu hũ lụa. Xác định điều kiện nẩy mầm đậu nành tối ưu cho hoạt tính chống oxy hóa cao.
Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến khả năng chống oxy hóa trong qui trình chế biến sữa đậu nành đóng chai tiệt trùng và tàu hũ lụa từ đậu nành nẩy mầm. Thử nghiệm khả năng hỗ trợ điều trị tổn thương viêm gan mạn trên chuột của sữa đậu nành và tàu hũ lụa từ đậu nành nẩy mầm.3 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tập trung xác định giống đậu nành có khả năng chống oxy hóa và hàm lượng protein cao từ các giống đậu nành được trồng phổ biến ở 2 ĐBSCL. Xác định các thông số của quá trình nẩy mầm để đậu nành có hàm lượng các hợp chất chống oxy hóa cao sử dụng cho chế biến sản phẩm sữa đậu nành và tàu hũ lụa. Đồng thời, một số công đoạn trên qui trình chế biến sữa đậu nành và tàu hũ lụa cũng được nghiên cứu nhằm đảm bảo duy trì hoạt tính chống oxy hóa cao cho sản phẩm.
Sản phẩm sữa đậu nành đóng chai tiệt trùng và tàu hũ lụa từ đậu nành nẩy mầm có khả năng chống oxy hóa và giá trị dinh dưỡng cũng như chất lượng cảm quan tốt được chứng minh có hiệu quả cao trong điều trị tổn thương do viêm gan mạn tính trên chuột.4 Nội dung nghiên cứu Xác định thông số tối ưu cho quá trình trích ly polyphenol cùng với khả năng chống oxy hóa trong đậu nành, bao gồm loại và nồng độ dung môi; tỷ lệ dung môi và nguyên liệu cùng với số chu kỳ trích ly; nhiệt độ và thời gian trích ly. Tuyển chọn giống đậu nành có thành phần dinh dưỡng và hoạt tính chống oxy hóa cao từ các giống đậu nành phổ biến hiện nay tại ĐBSCL. Xác định điều kiện tối ưu của quá trình nẩy mầm đậu nành, bao gồm nhiệt độ, loại ánh sáng và nồng độ GA3 sử dụng trong nước ngâm, để hạt có hoạt tính chống oxy hóa cao. Xác định các thông số thích hợp tại các công đoạn xử lý có liên quan đến hoạt tính chống oxy hóa của sản phẩm trên qui trình chế biến sữa đậu nành đóng chai tiệt trùng và tàu hũ lụa từ đậu nành nẩy mầm.
Thử nghiệm in–vivo khả năng bảo vệ gan của sữa đậu nành và tàu hũ lụa từ đậu nành nẩy mầm dưới tác động gây tổn thương viêm gan mạn trên chuột bằng CCl4. 1 5 Ý nghĩ của luận án Kết quả nghiên cứu công bố từ luận án cung cấp thông tin về khả năng chống oxy hóa của các giống đậu nành phổ biến hiện nay ở ĐBSCL, điều kiện nẩy mầm hạt thích hợp nhất cho đậu nành có hoạt tính chống oxy hóa cao. Kết quả từ luận án cho thấy tính khả thi trong việc sử dụng đậu nành nẩy mầm để chế biến các sản phẩm thực phẩm nhằm nâng cao giá trị chức năng cho sản phẩm thông qua các khảo sát in-vivo trên cơ thể chuột. 1 6 Điểm mới của luận án Hoạt tính chống oxy hóa của các giống đậu nành phổ biến ở ĐBSCL được đánh giá đầy đủ dựa trên qui trình trích ly polyphenol tối ưu được xác lập.
3 Khả năng chống oxy hóa của các giống đậu nành cùng với quá trình nẩy mầm được chọn làm tiêu chí để thử nghiệm chế biến sản phẩm thực phẩm từ đậu nành nẩy mầm. Các thông số tối thích cho quá trình nẩy mầm đậu nành thu được khả năng chống oxy hóa cao, đồng thời các toàn bộ biến đổi về thành phần dinh dưỡng, kháng dinh dưỡng, hoạt tính enzyme và khả năng chống oxy hóa trong quá trình nẩy mầm đậu nành đã được xác định. Sản phẩm sữa đậu nành đóng chai tiệt trùng và tàu hũ lụa từ đậu nành nẩy mầm được nghiên cứu chế biến và thử nghiệm in-vivo chứng minh có hiệu quả cao trong việc bảo vệ gan đối với tổn thương viêm gan mạn do CCl4 gây ra trên chuột. 4 hương 2: TỔ TÀI LI U 2.1 Giới thiệu về đậu nành 2.1 Nguồn gốc và lịch sử đậu nành Đậu nành còn gọi là đậu tương, là loại cây thuộc họ đậu (Fabaceae), chi Glycine, loài Glycine max (L.
Đậu nành là một trong những giống cây được trồng lâu đời nhất (Markley, 1944). Theo Morse and Cartter (1937), đậu nành được trồng rộng rãi ở Trung Quốc từ trước khi được ghi chép trong tài liệu. Vào thế kỷ XVI sau Công nguyên, đậu nành được sử dụng ở Miến Điện, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Nepal, Philippine, Thái Lan và Việt Nam (Hartman et al. Ở châu Âu, đậu nành được trồng ở Đức, Liên Xô cũ, Anh, Algeria và New Zealand.
Đậu nành phát triển như một loại cây trồng lấy hạt có dầu, phổ biến trên thị trường của hơn 35 quốc gia (Smith and Huyser, 1987). Một số tài liệu cho rằng cây đậu nành được đưa vào trồng ở nước ta từ thời vua Hùng (Ngô Thế Dân và ctv. Mặc dù được trồng rất sớm nhưng chỉ trong vài chục năm gần đây đậu nành mới được quan tâm, phát triển và ngày nay đậu nành được xem là loại cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao.2 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu nành 2.1 Tình hình sản xuất đậu nành trên thế giới Sản xuất đậu nành trên thế giới tăng 4,6% hàng năm trong giai đoạn 1961–2007 và đạt được sản lượng trung bình 217,6 triệu tấn/năm trong khoảng 2005–2007 (Masuda and Goldsmith, 2009). Theo SOPA (2018), năm 2014– 2015, sản lượng đậu nành trên thế giới 320,0 triệu tấn và đạt 351,3 triệu tấn trong năm 2016–2017.
Các nhà sản xuất đậu nành chủ yếu là Mỹ (116,9 triệu tấn, chiếm 33,3%), Brazil (114,1 triệu tấn, chiếm 32,5%), Argentina (57,8 triệu tấn, chiếm 16,5%) và Trung Quốc (12,9 triệu tấn, chiềm 3,7%). Châu Á có bề dầy lịch sử trong việc trồng và sản xuất đậu nành.