CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở gia cầm Gia cầm khác với các động vật khác ở chỗ cường độ của quá trình trao đổi chất lớn, thân nhiệt cao (40 – 42oC). Gia cầm sinh trưởng nhanh, khối lượng gà hướng thịt Broiler lúc 50 ngày tuổi gấp 40 – 50 lần khối lượng khi mới nở (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân - 1998) [10] * Tiêu hoá ở miệng Tuyến nước bọt ở gà kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy.
Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nước bọt có chứa một ít men amylaza nên cũng có ít tác dụng đối với tiêu hoá. Gà mái có thể tiết 7 – 12 ml nước bọt trong một ngày đêm (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân - 1998) [10]. * Tiêu hoá ở diều Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hoá từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật.
Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn. Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng nhau 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 – 6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm khoảng 4,5 – 5,8. Sau khi ăn 1 – 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy (khoảng 3 -4 lần co bóp) với khoảng cách 15 – 20 phút, sau khi ăn 5 – 12 giờ là 10 – 30 phút, khi đói 8 – 16 lần/giờ.
Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phần đường chuyển hoá thành đường glucoza. * Tiêu hoá ở dạ dày Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ. Khối lượng dạ dày tuyến là 3,5 – 6g. Vách dạ dày gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết.
Dạ dày tiết dịch có chứa acid Clohidric, pepsin và musin. Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là n 4 không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường. Thức ăn không được giữ lại lâu ở dạ dày tuyến mà chuyển xuống dạ dày cơ. Ở dạ dày tuyến Protein được thuỷ phân như sau: Protein + nước + Pepsin và HCl Abulmoz + Pepton.
Dạ dày cơ có cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Ở đây thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hoá dưới tác dụng của men dịch dạ dày tuyến, enzyme và vi khuẩn. Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào tá tràng, có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ cùng tham gia, môi trường kiềm hoá tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid. Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng khả năng nghiền của thành dạ dày.
* Tiêu hóa ở ruột Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1,0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza. Dịch tuyến tụy lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH=6 ở gà, pH=7,2 – 7,5 ở gia cầm khác). Dịch này có chứa men tripsin, carboxy peptidaza, amylaza, mantaza, lipaza. Dịch mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, là dịch lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH = 7,3 – 8,5.
Ở ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào hình cốc của màng nhầy tiết ra dịch nhầy. Quá trình tiêu hóa ở ruột già phụ thuộc vào enzym của ruột non đi xuống, các enzym này chỉ hoạt động ở phần đầu của ruột già và với tốc độ chậm hơn so với ruột non. Trong ruột già có hệ vi sinh vật cư trú, về số lượng và chủng loại giống như trong dạ cỏ của động vật nhai lại. Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột đường và protein.
Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ được hấp thu tại đây. Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột gà để tổng hợp nên vitamin K, vitamin B12. Trong ruột già còn có quá trình viên phân, tạo phân. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm * Đặc điểm sinh dục của gia cầm - Cơ quan sinh dục cái của gia cầm Gồm một buồng trứng và ống dẫn trứng.
Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo bao ngoài vỏ trứng. Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 23,5 - 24 giờ (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [10]. + Buồng trứng Theo Brandsch H. và Bilchel (1978) [35], xác định trong thời kỳ đầu ấp trứng cả hai buồng trứng phải và trái đều hình thành và phát triển.
Từ ngày ấp thứ 5 đến 7, buồng trứng trái phát triển hơn buồng trứng bên phải. Ở gia cầm trưởng thành chỉ có buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển và hoạt động chức năng. Còn buồng trứng và ống dẫn trứng phải không phát triển. Buồng trứng gà có khoảng 586 đến 3605 tế bào trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [14], sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín. Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố như: điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý của gia cầm. Song điều chung nhất là sự rụng trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của thần kinh và thể dịch. + Ống dẫn trứng Là một phần hình ống, ở đó xảy ra việc thụ tinh tế bào trứng và kết thúc quá trình tạo trứng ở lỗ huyệt.
Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi và hoạt hóa chức năng hệ sinh dục. Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng, có đường kính đồng nhất trên chiều dài ống dẫn. Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng có chiều dài 68cm, khối lượng 77g. Khi đẻ với cường độ cao chiều dài tăng tới 86 – 90cm, đường kính tới 10cm.
Ở gà không đẻ, ống dẫn trứng có kích thước tương ứng là 11 – 18cm và 0,4 – 0,7cm. Khi gia cầm thành thục, ống dẫn trứng gồm các phần sau: phễu (hình loa kèn), phần tiết lòng trắng, phần eo, tiếp theo là tử cung, âm đạo, huyệt. n 6 Phễu: phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng dài 4 – 7cm, đường kính 8 – 9cm, nằm dưới buồng trứng. Bề mặt niêm mạc phễu gấp nếp, không có tuyến.
Lớp niêm mạc cổ phễu có tuyến hình ống, chất tiết của nó tham gia vào tạo trứng và hình thành dây chằng lòng đỏ. Tại đây trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng, trứng dừng lại ở đây khoảng 20 phút. Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng. Ở thời kỳ gia cầm đẻ trứng với tỷ lệ cao, chúng có thể dài tới 20 – 30cm, niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống giống như cổ phễu tiết ra lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng, trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ.
Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm, các tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và tiết ra một chất hạt hình thành nên tấm màng dưới vỏ gồm 2 lớp, 2 lớp này tách nhau ra tại đầu lớn của vỏ trứng hình thành nên buồng khí. Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng. Trứng dừng ở đây khoảng 60 – 70 phút. Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ, là phần mở to ra tạo thành tử cung dài 8 – 12cm, tuyến vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng, chất dịch thẩm thấu qua màng vỏ đi vào trong lòng trắng làm tăng khối lượng lòng trắng, mặt khác một số tuyến ở tử cung tiết ra một chất dịch hình thành nên vỏ cứng, quá trình hình thành nên vỏ trứng diễn ra chậm chạp.
Trứng dừng lại ở đây khá lâu 18 – 20 giờ. Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng ra ngoài cơ thể. Thành âm đạo có nhiều lớp cơ lớn, niêm mạc nhăn nhưng không có các tuyến hình ống. Tại chính mép biểu mô của âm đạo tiết ra một chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo ở trên vỏ.
Trứng đi qua phần âm đạo rất nhanh. - Những trường hợp trứng dị hình: + Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rơi vào loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được, vì vậy, vẫn có quá trình tạo trứng và hình thành trứng nhỏ. n 7 + Trứng 2 lòng đỏ: Do 2 trứng cùng rụng một thời điểm, hoặc cách nhau không quá 20 phút, vì vậy, hình thành nên quả trứng rất to. + Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bị kích động đột ngột, một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại, gây ra nhu động ngược lên phía trên, gặp tế bào trứng rụng mới, sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng.
Ngoài ra, còn có trứng méo mó, không vỏ do thiếu khoáng, vitamin D hoặc do co bóp của ống dẫn trứng… - Cơ quan sinh dục đực Gồm: Tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và cơ quan giao phối. Tinh hoàn có hình ô van hoặc hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng nằm ở vị trí phía trên thùy thước của thận, cạnh túi khí bụng, khối lượng tinh hoàn phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý. Cơ quan giao cấu có cấu trúc khác biệt, nó không phát triển. Ở gà tây gần như không có cơ quan giao phối, ngỗng, gà, vịt có gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt.
Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc, tế bào sơ cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển, mỗi tinh bào thứ nhất lại chia thành hai tinh bào thứ hai, tiếp tục phát triển, sau đó hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng. Số lượng một lần phóng tinh gà 0,6 – 2ml. Trong mỗi 1ml chứa 3,2 tỷ tinh trùng. Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú, nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu từ 3 – 5 ngày nhưng tinh trùng gà sống được rất lâu trong đường sinh dục con cái.