ĐẶT VẤN ĐỀ Hầu hết lợn ở khu vực nông thôn của CHDCND Lào được nuôi theo truyền thống, đầu vào thấp, theo phương thức tự do và bán tự do, lợn nhặt ăn tự do quanh năm hoặc sau khi các vụ mùa chính được thu hoạch (Phengsavanh và cs, 2010). Nguồn thức ăn chính là phụ phẩm nông nghiệp, rau và cỏ dại mọc trong rừng, dọc theo bờ suối và trong các khu vực trồng trọt. Những nguồn thức ăn này dễ bị hỏng do thay đổi thời tiết Luận văn thạc sĩ khoa học theo mùa và trong mùa khô thì thức ăn luôn thiếu. Do đó, một trong những hạn chế chính đối với chăn nuôi lợn trong các hệ thống sản xuất nhỏ này là thiếu thức ăn.
Ngoài sự thiếu hụt thức ăn này, các bệnh truyền nhiễm cũng là một vấn đề làm hạn chế sức sản suất (Conlan và cs, 2008; Phengsavanh và Stur, 2006; Thorne, 2005). Ở Lào cũng như ở hầu hết các nước nhiệt đới, cây trồng được trồng rộng rãi nhất là nguồn carbohydrate chủ yếu (ví dụ: gạo, mía, sắn). Một số ít cây trồng là đặc biệt như là nguồn protein. Do đó, thức ăn giàu protein như bột đậu nành được nhập khẩu để tạo ra chế độ ăn cân bằng cho vật nuôi, đặc biệt là lợn và gia cầm.
Một cách tiếp cận khác đã được một số tác giả nghiên cứu là lên men trạng thái rắn của các sản phẩm phụ giàu carbohydrate từ các loại cây trồng này bằng cách sử dụng kết hợp nấm và nấm men (Phiny và cs, 2012; Phong và cs, 2013; Khempaka và cs, 2011; Hong và Ca, 2015) để làm giàu hàm lượng protein. Mục đích của nghiên cứu được báo cáo trong bài báo này là áp dụng kỹ thuật làm giàu protein để nâng cao hàm lượng protein của củ sắn và đánh giá việc sử dụng sản phẩm này như là một phần thay thế của khoai môn ủ chua trong khẩu phần ăn cơ bản có thân cây chuối cho lợn Moo Lath VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đại điểm: 13 Thí nghiệm được thực hiện trong Phòng thí nghiệm của bộ môn Khoa học Động vật, Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Rừng, Đại học Souphanouvong. Địa điểm này nằm cách thành phố Luông Pha Băng, CHDCND Lào 7 km. Thiết kế thí nghiệm, nghiệm thức và quản lý Làm giàu protein củ sắn Củ sắn (60 kg) được gọt vỏ và băm nhỏ bằng tay thành những miếng nhỏ (1-2 cm), và hấp trong 30 phút.
Dùng một thùng thép 20 lít để hấp. Cái này có một sàn giả bằng các dải tre được đỡ bằng những tấm gỗ 30cm cao hơn đế thùng. Không gian bên dưới dải tre chứa nước được duy trì ở điểm sôi bởi lửa cháy từ gỗ bên dưới thùng. Củ sắn hấp được lấy ra khỏi thùng và làm nguội trong 15 phút (94,2%) sau đó trộn với 0,8% urê, 3% di-ammonium phosphate (DAP) và men 2% (S.
cerevisiae) theo VCK (tất cả các thành phần đã được sử dụng cùng loại như thí nghiệm 1 và 2). Khối ủ sau đó được chuyển vào các rổ tre được phủ bằng lưới nhựa để cho phép không khí vào tự do (ảnh 5). Trong mỗi 3 ngày liên tiếp, khối ủ trong rổ được xới để tất cả các chỗ của khối ủ được tiếp xúc với không khí. Sau bảy ngày, củ sắn giàu protein đã được cho lợn ăn.
Ủ môn và thân cây chuối Lá và cuống lá môn (Colocasia esculenta) được thu thập từ các khu vực xung quanh trường Đại học và được cắt thành từng miếng nhỏ (dài 2-3 cm). Chúng được làm héo trong 24 giờ để giảm nước và sau đó được ủ trong túi nilon 50 lít không có phụ gia trong 14 ngày. Thân cây chuối được mua từ một ngôi làng gần đó. Chúng được cắt Luận văn thạc sĩ khoa học bằng tay thành từng miếng nhỏ và ủ trong các thùng nhựa PVC 200 lít trong 14 ngày.
Thiết kế thí nghiệm Thí nghiệm được thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại. Các nghiệm thức riêng lẻ là các tỷ lệ củ sắn giàu protein (PECR) khác nhau (theo VCK) thay thế cho môn ủ chua (TS) với tỷ lệ không đổi của thân chuối (BS): • PECR0: 60% Môn ủ chua (TS) + 40% thân cây chuối (BS) • PECR5: 55% Môn ủ chua (TS) + 40% thân cây chuối (BS) + 5% củ sắn làm giàu protein (PECR) • PECR10: 50% TS + 40% BS + 10% PECR • PECR15: 45% TS +40% BS + 15% PECR 12 con lợn Moo Lath có trọng lượng cơ thể trung bình là 14,8 ± 1,89 kg (8 con đực; 4 con cái) được mua từ một trang trại lợn ở tỉnh Luông prabang. Lợn đã được tiêm vắc-xin phòng bệnh dịch tả và điều trị giun tròn bằng ivermectin (1ml / 20kg LW), trước khi bắt đầu thí nghiệm. Lợn được nhốt trong các ô chuồng riêng lẻ (chiều rộng 1m và chiều dài 1,2m) được làm từ vật liệu địa phương.
Lợn được cung cấp nước và thích nghi với ô chuồng và thức ăn trong một tuần trước khi bắt đầu thí nghiệm. Thí nghiệm kéo dài 90 ngày. Các thành phần của khẩu ăn được trộn đều và cung cấp cho lợn hai lần mỗi 14 ngày vào lúc 6:30 sáng và 5:00 chiều, số lượng được cung cấp 40g VCK / kg trọng lượng sống. Thu thập số liệu Lợn được cân vào buổi sáng trước khi cho ăn, cứ sau 15 ngày cân 1 lần kể từ khi bắt đầu thử nghiệm.
Tăng khối lượng được xác định hồi quy tuyến tính vào những ngày thí nghiệm. Thức ăn cung cấp và từ dư thừa được ghi chép hàng ngày, mẫu thức ăn được lưu trữ trong tủ lạnh ở 4 ° C trước khi phân tích DM, N và khoáng. Phân tích hóa học Các chỉ tiêu VCK, Nito và chất hữu cơ (OM) của mẫu thức ăn dư được xác định theo phương pháp AOAC (1990). Protein thực chỉ được phân tích cho mẫu PECR, nó được xác định bằng cách xử lý trước các mẫu bằng axit Trichlor-acetic (TCA) trước khi ước tính N.
Phân tích thống kê Số liệu về thức ăn ăn vào, trọng lượng sống được phân tích bằng Mô hình tuyến tính chung (GLM) trong chương trình ANOVA của phần mềm Minitab (2010) (phiên bản 16. Nguồn của các biến thể là các nghiệm thức và sai số. Mô hình thống kê đã được sử dụng: Yij = + i + eij Yij là biến phụ thuộc; µ là giá trị trung bình; i = ảnh hưởng của nghiệm thức Luận văn thạc sĩ khoa học (i=1-4); eij là sai số ngẫu nhiên KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Thành phần hóa học Sau khi lên men 7 ngày, giá trị protein thô và protein thực là 16,7 và 14,2% (tính theo VCK). Mức độ protein thô trong thân chuối rất thấp (bảng1).
Thành phần hóa học của các thành phần thức ăn (% theo VCK, ngoại trừ VCK là theo dạng tươi) VCK N*6.25 OM Protein thực Môn ủ 26 15.9 - Thân cây chuối 7.8 - Củ sắn đã làm giàu protein 26.2 Lượng ăn vào, tốc độ sinh trưởng và hệ chuyển hóa thức ăn Lượng VCK tăng tuyến tính với sự gia tăng mức độ củ sắn giàu protein (Bảng 2). Giá trị trung bình của lượng ăn vào theoVCK (g / ngày) của lợn được cho ăn môn ủ chua (TS) và thân chuối (BT) bổ sung với củ sắn làm giàu protein (PECR) PECR0 PECR5 PECR10 PECR15 SEM p DM intake, g/day PECR 0 43 90 127 - - TS 431 435 388 383 - - BS 301 332 335 345 - - Total 732c 810 b 813b 854a 4.001 g VCK/kg TL sống 39.002 abc Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05. Tăng khối lượng của lợn (Bảng 3) đã tăng 46% theo xu hướng tuyến tính (Hình 2) do củ sắn giàu protein được tăng từ 0 đến 15% khẩu phần. Hệ số chuyển hóa thức ăn cũng theo xu hướng tương tự khi tỷ lệ củ sắn giàu protein trong khẩu ăn được tăng lên (Hình 3).
Sinh trưởng của lợn trong thí nghiệm kg Luận văn thạc sĩ khoa học Khối lượng sống, PECR0 PECR5 PECR10 PECR15 SEM p KL bắt đầu 14.966 KL kết thúc 25.302 Tăng trọng hàng ngày (g/ngày) 125d 150c 167b 183a 2.001 Lượng ăn vào, g/ngày( VCK) 732c 810b 813b 854a 4.017 abc Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê p<0,05. Hiệu quả kinh tế Chi phí thức ăn và hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm được thể hiện lần lượt trong bảng 4 và 5. Chi phí thức ăn/kg VCK là thấp hơn nghiệm thức 16 PECR0, mặc dù sự khác biệt giữa các khẩu phần ăn là nhỏ. Tuy nhiên, do hệ số chuyển hóa thức ăn của 2 nghiệm thức PECR15 và PECR10 là thấp nhất trong (tương ứng 4,7 và 4,9 kg VCK/ kg thức ăn), chi phí thức ăn/kg tăng trọng của các nghiệm thức PECR15 và PECR10 là thấp nhất (15,505 và 15,618 kip/kg khối lượng tăng) và cao nhất ở nghiệm thức PECR0 (tăng 16.
Chi phí cho thức ăn (LAK) Thức ăn Kip/kg thức ăn Kip/kg VCK Môn ủ 550 2,115 Thân cây chuối 250 3,333 Củ sắn 1,000 3,774 DAP 15,000 15,000 Urea 15,000 15,000 Nấm men 35,000 35,000 # PECR - 4,111 LAK = Lao Kip,: 8,569 = 1 USD; # PECR: Củ sắn làm giàu protein được tính giá bao gồm DAP, urê và nấm men Bảng 5. Hiệu quả kinh tế của nghiệm thức thí nghiệm (LAK) Luận văn thạc sĩ khoa học Chỉ tiêu Số ngày thí nghiệm PECR0 90 PECR5 90 PECR10 90 PECR15 90 SEM - p - c b a a Tăng KL, kg 10.001 Thức ăn ăn vào/ngày 0.001 FCR kg VCK/kg 5.017 Chi phí thức ăn/kg 2,614 2,721 2,838 2,904 - - Chi phí TĂ/kg tăng KL 16,426 16,391 15,618 15,505 - - LAK = Lao Kip,: 8,569 = 1 USD; THẢO LUẬN Sự gia tăng hàm lượng protein thực của củ sắn bằng cách lên men với nấm men, urê và DAP tương đồng với phát hiện của nhiều nhà nghiên cứu. Krisada và cs, (2009) đã nghiên cứu một quá trình lên men tương tự với củ sắn tươi sử dụng urê và men. Protein thô tăng từ 3,2 đến 21,1% theo VCK với 90% protein thô ở dạng protein thực.
Lên men vỏ sắn bằng nuôi cấy S. cerevisiae thuần đã làm tăng hàm lượng protein từ 2,4% lên 14,1% (Antai và Mbongo, 1994). Oboh và Kindahunsi, (2005) đã báo cáo 17 rằng quá trình lên men bột sắn với S. cerevisiae đã làm tăng mức protein từ 4,4% lên 10,9% theo VCK.
Tăng tốc độ sinh trưởng (46%) bằng cách thay thế môn ủ chua bằng củ sắn giàu protein là tương đương với (32%) được báo cáo trong một thí nghiệm trước đó (Manivanh và Preston, 2015). Hệ số chuyển hóa thức ăn theo VCK trong thí nghiệm hiện tại (4.