Chương 1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU 1. Tống luận về các công trình đã công bố về máy thái thức ăn chăn nuôi 1. Các kết quả nghiên cứu về máy thái cây ngô làm thức ăn xanh dạng túi ti Ở trong nước Cho đên nay, có rât ít công trình khoa học nghiên cứu lý thuyết cắt thái thực vật. Duy nhất vào năm 2005, TS.
Nguyễn Như Nam [8] có công bố công trình “Một số kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về máy thái cỏ kiểu đĩa trục ngang với lưỡi dao thẳng.” Về lý thuyết cắt thái thực vật chủ yếu là các tài liệu bên soạn và dịch từ sách nước ngoài làm giáo trình cho sinh viên ngành cơ giới hoá nông nghiệp. Tiêu biểu là các công trình biên soạn của Trần Minh Vượng và Nguyễn Thị Thuận với giáo trình “Công cụ và máy chăn nuôi” [15], “Máy phục vụ chăn nudi” [19], hay công trình biên soạn “Máy và thiết bị chế biển thức ăn chăn nuôi ” [13] của Nguyễn Như Thung và các cộng sự, giáo trình “Máy gia công cơ học nông sản thực phẩm ” của Nguyễn Như Nam và Trần Thị Thanh [10]. Về thực nghiệm đã có một số công trình khoa học công bồ về việc thiết kế, chế tạo, khảo nghiệm máy thái cỏ kiêu đĩa trục ngang. Đó là công trình của Trần Minh Vượng và các công sự về “Kết quả khảo nghiệm máy thái PCC - 6” công bố vào năm 1975.
Cho đến thời gian này, trong nước chưa chế tạo được máy thái thân thực vật phục vụ sản xuất. Vì vậy công trình công bố chỉ mới dừng lại ở khảo nghiệm mẫu máy thái thực vật nhập từ nước ngoài. Vào những thập niên 1990, các nhà khoa học của trường đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu chế tạo thành công máy thái thực vật có qui mô năng suất từ 2 _+ 4 tắn/h chuyền giao cho công ty Bò Sữa An Phú và nhiều trang trại chăn nuôi khác. Cũng năm 2003, Trung tâm Năng lượng và Máy Nông Nghiệp (trường đại học Nông Lâm Thành phó Hồ Chí Minh) đã chế tạo máy thái cỏ (hình 1.1) có năng suất từ 700- 1000 kg/h theo nguyên mẫu của Viện Nghiên cứu lúa Quốc Tế (IRRI) để sử dụng ở các nông hộ và các trang trại vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Đặc điềm kỹ thuật: Năng suất: 700 + 1000 kg/giôo Công suất động cơ Diesel: 5-6 HP Lọai vật liệu thái: cỏ voi, thân cây bắp Chiêu dài đọan thái: — 50 -100mm Số dao cắt 02 dao Kích thước máy; 1350 x 900 x 1000 Trong lugng may: §0 kg (không động cơ) Gia thanh may (Khong dong co): 3,8 triệu đí máy Hinh 1. May thai cỏ theo mẫu IRRI của Trung tâm Năng lượng và Máy Nông Nghiệp (trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh). Nguyễn Như Nam thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo:“Nghiên cứu công nghệ và thiết kế, chế tạo dây chuyên chế biển thức ăn gia súc cho chăn nuôi đại gia súc và xuất khẩu” [T]. Đề tài đã chuyên giao thiết kế cho công ty TNHH một thành viên Cơ khí Tây Ninh chế tạo thành công máy thái cây ngô kiểu đĩa trục ngang đạt năng suất 4 tắn/h lắp đặt cho doanh nghiệp Hàn Quốc tại Trảng Bàng (Tây Ninh).
Máy thái cỏ của Công ty Cổ Phần Quốc Tế Xanh. (Theo [7]) Năm 2009, Công ty Cổ Phần Quốc Tế Xanh (huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai) đã chế tạo và đưa vào sử dụng, máy thái cây ngô làm thức ăn ủ xanh (hình 1. Máy có sử dụng 2 động cơ truyền động cho trục cuốn và dao thái. Sản phẩm thái có độ dài từ 40 mm đến 100 mm, đạt năng suất 3 tan/h.
Năm 2005 kỹ sư Trịnh Văn Trại [14] thực hiện đề tài “Hoàn thiện công nghệ và thiết bị ủ cỏ cho chăn nuôi hộ gia đình và trang trại nhỏ” cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã chế tạo chép mẫu máy thái cỏ PCB - 3,5. Đề tài này nghiệm thu vào tháng 11 năm 2008. Đề tài thực hiện không có kết quả khoa học lý thuyết. Kết quả về thực nghiệm đã chế tạo hoàn chỉnh 01 mẫu máy thái cỏ đạt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật là: năng suất I tắn/h, độ dài đọan thái với phần thân cây bắp là 5 cm, phan 14 15 cm.
May thai không có bộ phần nghiền. Như vậy so sánh với yêu cầu kỹ thuật đặt ra, máy không đảm bảo được độ nhỏ sản phẩm thái. Vào những năm 2000, công ty Bình Quân (Thành phố Hồ Chí Minh) đã giới thiệu trên thị trường các loại máy thái cỏ kiêu đĩa và trỗng có quy mô năng suất dưới 2 tan/h. Máy thái cỏ của Công ty Bình Quân (Theo [7]).
Các kết quả nghiên cứu về máy thái cây bắp làm thức ăn xanh dạng túi ủ Ở ngoài nước Lý thuyết tính toán máy thái thực vật nói chung và máy thái thực vật kiểu đĩa với lưỡi thắng đã được V. Goriatskin xây dựng hoàn chỉnh từ năm 1936 với công trình “Teopa coIoM3epKH H cwJ1ocope3Kn ”, sau đó N. Reznhik biên soạn và phát triển với công trình “ CnnocoyØopownkie KoMØalnr” công bố năm 1964 [27]. Đây là các tài liệu chuyên khảo.
Trong các công trình này, các tác giả đã xây dựng lý thuyết cắt thái theo hệ thống hoàn chỉnh từ nghiên cứu đối tượng cắt thái, các mẫu máy thái và lý thuyết tính toán, thiết kế bộ phận cung cấp, bộ phận thái và thu hồi vật thái. Cùng với các tài liệu chuyên khảo, các lý thuyết về máy thái thực vật còn được biên soạn trong các giáo trình về máy phục vụ chăn nuôi giảng dạy cho các ngành cơ giới hoá nông nghiệp. VỀ ngành máy và thiết bị sản xuất thực phẩm, lý thuyết cắt thái thực vật ít được đề cập mà chỉ tập trung với đối tượng là các loại dao cắt các sản phẩm thực phẩm như thịt, cá, bột. May thai rau co rom PCC-6,0.Co cau cing day chuyén; 3.Tay diéu khiển khớp ly hợp; 5.Thanh đỡ và lò xo của trục cuốn cung cấp phía trên.
Hầu hết các loại máy thái thực vật được sản xuất phục vụ tại các trang trại chăn nuôi hoặc nằm trong các máy liên hợp thu hoạch cỏ, ngô trên đồng. Nguyên lý của tất cả các loại máy thái thực vật đều có cấu tạo như hình 1. Sự khác biệt nhau chủ yếu là về chất lượng chế tạo, hoặc giảm bớt các bộ phận phụ trợ để phù hợp với yêu cầu công việc và giảm giá thành. Truyền động cho máy thái có thể từ động cơ điện hoặc từ trục trích công suất của máy kéo như máy thái GEN do Mỹ sản xuất nhập khâu vào Việt Nam từ trước năm 1975.
Máy thái này được Công ty Bò sữa An Phú sử dụng cho đến cuối thập niên 1980. Đây là loại máy thái không có băng tải cấp liệu mà dùng một máng nghiêng thay thế.4 giới thiệu máy thái rau — cỏ — rơm PCC - 6 ( theo [10], [16], [17], [18], [19] ) do Liên Xô (cũ ) sản xuất. Đây là loại máy thái đã nhập vào Việt Nam trước và sau năm 1975, như trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Nông Trường Bò Sữa Đức Trọng, Trung Tâm Nghiên Cứu trâu và đồng cỏ Sông Bé, .Máy dùng để thái cỏ tươi làm thức ăn xanh hay thức ăn ủ tốt. Máy thuộc loại di động, kiểu đĩa, có cơ khí hóa việc cung cấp và thu thức ăn.
Năng suất tính toán cực đại của máy khi thái rơm tới 1,5 tắn/h khi thái thức ăn xanh tới 6 tắn/h. Khung PCC - 6 được hàn bằng các thanh thép góc, đặt trên 4 bánh xe. Các bánh xe bằng gang. Trục bánh xe sau làm dài hơn để cho máy đứng vững chắc hơn.
Trục trước xoay được và có lắp một móc ngắn. Bánh xe dùng để di chuyển máy trên đường đất với vận tốc không lớn lắm và với khoảng cách ngắn (trong phạm vi trại). Khi vận chuyên máy thái rau cỏ rơm trên những khoảng xa, phải chở trên ô tô. Dây chuyển kiểu xích lắp các thanh rộng 360 mm và dài 1,7m, gồm hai xích với các thanh kim loại.
Xích mắc vào hai cặp bánh sao ở các trục chủ động và phụ động. Nhánh trên trượt trên hai thanh gỗ đọc lắp vào khung. Căng xích bằng cách thực hiện dịch chuyên trục phụ động với các gối đỡ dọc theo khung dùng các định ốc điều chỉnh. Cơ cấu cung cấp (hình 1.5) gồm hai trục cuốn bằng gang, trục dưới 8 có răng, đường kính 100 mm.
Trục trên 2 có các rãnh răng dài đường kính 160mm. Cả hai trục cuốn quay cùng vận tốc vòng như nhau. Tăng đường kính của trục cuốn trên với mục đích để thu ép lớp thức ăn tốt hơn. Trục trên lắp bơi.
Nó cùng với trục quay và gối đỡ di chuyển được dọc theo rãnh thăng đứng ở các má bên của họng thái dưới tác dụng của phản lực của lớp thức ăn. Việc nén lớp thức ăn của các trục cuốn được điều chỉnh nhờ lò xo 3. Để cạo sạch những thân rau cỏ quấn vào trục cuôn dưới, các răng của nó làm nghiêng về phía sau theo chiêu quay và đi qua 10 khe giữa các răng của tắm lược cô định. Trên mép phía trước của tắm lược lắp tắm kê thái bằng thép 7.
Các bộ phận cung cấp và thái của máy thái rau cỏ rơm PCC-6,0.Dây chuyền kiểu xích-thanh; 2.Trục cuốn trên; 3.Cánh quạt gió; 5. Định ốc điều chỉnh; 7.Tắm kê thái; 8.Trục cuốn đưới; b) Dạng chung của cánh quay : I.Đinh ốc điều chỉnh. Họng thái có thé tháo lắp được, bề rộng 380 mm, chiều cao cực đại là 100 mm. Bộ phận dao gồm có cánh quay (hình 1.5) với hai đao và hai cánh quạt.
Cánh quay bằng thép đúc, đường kính 1200 mm, tiết điện cắt ngang ở đầu cánh có dạng thanh thép góc không đều cạnh, lắp bằng ô trục vào trục chính của máy, giữ chặt bang then va có hai đỉnh ốc hãm. Các dao I có lưỡi cong theo dạng vòng tròn sai tâm, được lắp bằng đỉnh ốc vào các mặt cạnh của cánh quay. Để điều chỉnh vị trí của lưỡi dao đối với tắm kê thái có các đỉnh ốc điều chỉnh 3. Dao làm bằng thép lá dày 3 mm, với góc mài của lưỡi là 129.
Hai cánh quạt 2 dùng để tạo thành luồng gió trong ống dẫn của dây chuyền quạt gió, được lắp vào các mặt trước của cánh quay. 11 Trục của bộ phận dao đặt trên hai gối đỡ bi của khung và được truyền chuyển động quay với tốc độ 450 vg/ph. Cánh quay với dao và cánh quạt gió có vỏ che kín (hình 1. Phần đưới của vỏ lắp cố định vào khung và có đoạn ống để nối ống dẫn.