CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Chất lượng tín dụng của NHTM 1. Khái niệm Trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng, hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, là hoạt động sinh lời chủ yếu của các NHTM. Hoạt động tín dụng theo thời gian ngày càng phát triển, mở rộng ra cả về đối tượng lẫn quy mô và làm cho thị trường có sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Do đó, để tồn tại và phát triển cũng như để phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế thì các NHTM phải nâng cao CLTD, đây là yếu tố tiên quyết giúp cho hoạt động tín dụng được bền vững. Và cũng nhờ hoạt động tín dụng phát triển kéo theo hoạt động phi tín dụng phát triển, từ đó giúp cho TCTD hoạt động hiệu quả và bền vững hơn. Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Thị Thu Đông trong đề tài ”Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam trong quá trình hội nhập, bảo vệ năm 2012 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: ”Chất lượng tín dụng là mức độ ngân hàng hoạt động tín dụng đáp ứng vốn cho sự phát triển kinh tế của đất nước và đạt được những mục tiêu đề ra về quy mô, an toàn, sinh lời phù hợp với quy định pháp luật hiện hành trong nước và thông lệ quốc tế. Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động dụng của NHTM.
Chất lượng tín dụng thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hạn chế rủi ro đảm bảo an toàn về vốn và khả năng sinh lời của NHTM.” Ngoài ra, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay chất lượng tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân. z 5 Chất lượng tín dụng có thể được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế khác nhau, từ phía ngân hàng, từ phía khách hàng, từ phía nền kinh tế. - Từ phía khách hàng: Do nhu cầu vốn vay được đáp ứng để khách hàng thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng nhằm bù đắp được chi phí sản xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứng trên giác độ khách hàng chỉ đơn giản là thỏa mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả. - Từ phía ngân hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
- Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội: Tín dụng ngân hàng phản ánh sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển. Luận văn của tác giả tiếp cận trên phương diện ngân hàng. Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thống. Hệ thống ngân hàng muốn lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với cộng đồng quốc tế thì chất lượng tín dụng cần phải được nâng cao. Như vậy chất lượng dịch vụ tín dụng được hiểu một cách khái quát nhất đó là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng cung cấp sản phẩm tín dụng đó. Đặc điểm của chất lượng tín dụng Từ những phân tích đặc điểm chất lượng dịch vụ của Tạ Thị Kiều An và cộng sự (2010) chúng ta có thể đưa ra đặc điểm chất lượng dịch vụ tín dụng như sau: Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.
CLTD z 6 được hình thành và bảo đảm từ hai phía là ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy CLTD ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của khách hàng. Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như: Tổng dư nợ, nợ quá hạn, nợ xấu, cơ cấu nguồn vốn tài trợ.), vừa trừu tượng (thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, các thủ tục và quy trình tín dụng, chính sách khách hàng, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và công nghệ. Chất lượng tín dụng vừa chịu ảnh hưởng bởi nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ và đạo đức cán bộ ngân hàng và khách hàng.), vừa khách quan (sự ổn định chính trị xã hội, sự phát triển của nền kinh tế.
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Nguyễn Văn Tiến (2012) cho rằng “Để phản ánh vè chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng nói chung người ta thường quan tâm đến hệ thống các chỉ tiêu định lượng sau đây: Tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn được tính theo công thức dưới đây: Tổng dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ cho vay Tỷ lệ Nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn, đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.
z 7 Do đó, để nâng cao chất lượng tín dụng thì ngân hàng cần có các biện pháp kiểm tra, giám sát các khoản vay của mình thật chặt chẽ, giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất (dưới 3%) để phù hợp với những quy định hiện nay. Tỷ lệ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa tổng các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ tại một thời điểm nhất định. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức: Dư nợ tín dụng xấu Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu, chính vì vậy, tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Hiệu suất sử dụng vốn vay Tổng huy động vốn Hiệu suất sử dụng vốn vay = Tổng dư nợ tín dụng Đây là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng cho vay được bao nhiêu trên một đồng vốn huy động. Tuy nhiên chỉ tiêu này phản ánh chưa rõ chất lượng tín dụng, vì nếu nguồn vốn huy động ít hơn dư nợ cho vay thì ngân hàng buộc phải sử dụng các nguồn vốn huy động khác có chi phí cao hơn.
Ngược lại, khi Ngân hàng thừa vốn, tức vốn huy động lớn hơn dư nợ cho vay, Ngân hàng lúc này có thể sẽ phải chịu khoản lỗ đối với phần vốn huy động thừa. Vòng quay vốn tín dụng Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh nguồn vốn của ngân hàng được quay vòng được bao nhiêu lần trong một năm. Chỉ tiêu này thường được các NHTM tính toán hàng năm z 8 để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng, hiệu quả tín dụng trong quá trình đưa vốn vào nền kinh tế. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng có tốc độ luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD, NHTM có khả năng quản lý vốn tốt.
Tuy nhiên, tùy từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của các KH vay mà dòng vốn tín dụng sẽ quay vòng khác nhau. Các TCTD có tỷ trọng cho vay lớn trong lĩnh vực bất động sản, đầu tư tài sản cố định thì vòng quay vốn tín dụng chậm hơn đối với các TCTD chuyên cho vay các KH trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Tỷ lệ lợi nhuận tín dụng/Tổng dư nợ Lợi nhuận từ tín dụng Tỷ lệ lợi nhuận tín dụng/ TDN = Tổng dư nợ tín dụng Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng. Lợi nhuận tín dụng được xem như là chênh lệch giữa chi phí đầu vào (trả lãi huy động vốn/mua vốn) và doanh số thu lãi từ hoạt động tín dụng.
Với cùng một mức dư nợ và lãi suất cho vay, nếu khoản tín dụng có chất lượng tốt, TCTD có nợ quá hạn thấp thì doanh số thu lãi sẽ cao hơn, dẫn đến lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cũng cao hơn. Tuy nhiên, tùy thuộc vào chính sách của Ngân hàng trong từng thời kỳ mà tầm quan trọng của chỉ tiêu này sẽ khác nhau. Nếu một Ngân hàng đang trong giai đoạn cần tăng trưởng tín dụng, thu hút KH, tăng khả năng cạnh tranh thì có khả năng sẽ chấp nhận một mức lợi nhuận thấp hơn. Lãi treo Lãi treo là khoản lãi tính trên nợ quá hạn mà ngân hàng chưa thu được.
Các khoản lãi treo phải theo dõi ngoại bảng và hạch toán vào chi phí kinh doanh. Lãi treo càng cao phản ánh rủi ro tín dụng, nguy cơ mất lợi nhuận của ngân hàng càng cao, do đó ảnh hưởng tới lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, và như vậy chỉ số này càng thấp càng tốt.