Phần mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, kết cấu của đề tài. Phần nội dung: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu đã công bố. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Phần kết luận: Kết luận lại nội dung nghiên cứu và những đóng góp của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 1. Các nghiên cứu công bố ở ngoài nƣớc Các nước đang phát triển đang nỗ lực cải cách kế toán KVC nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế và thực hiện các chính sách công.
Các giá trị xã hội của kế toán KVC đã đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong đó có mục tiêu về xóa đói giảm nghèo. Việc này đã giúp cho các nhà tài trợ và cho vay quốc tế xác nhận việc áp dụng IPSAS tại các nước đang phát triển. Việc áp dụng IPSAS và chuyển sang CSKT dồn tích sẽ làm cho việc cải cách kế toán KVC trở nên hữu ích hơn (Chan, 2006). Như vậy hệ thống kế toán sẽ giúp các quốc gia đang phát triển cung cấp thông tin có chất lượng hơn, từ đó, các quốc gia này sẽ tạo được lòng tin từ các nhà tài trợ vốn giúp thu hút được nguồn lực mạnh mẽ hơn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Cũng theo Chan (2003), tác giả đã phân tích sự khác biệt về mục đích, tính chất của hàng hóa, dịch vụ công cộng, tài chính, thuế với khu vực tư. Điều này được thể hiện trong chuẩn mực kế toán KVC tại các quốc gia phát triển. Kế toán KVC đang có xu hướng tiếp cận đến CSKT dồn tích và sự kết hợp giữa BCTC chính phủ mở rộng và báo cáo quỹ nhằm thúc đẩy trách nhiệm giải trình. Đối với kế toán KVC, tất cả các nguyên tắc kế toán cần phải được quy định thành bộ khung các tiêu chuẩn nhằm thúc đẩy trách nhiệm giải trình tài chính của chính phủ.
Tuy nhiên, việc công bố đầy đủ thông tin tài chính của kế toán KVC còn phụ thuộc vào các yếu tố về môi trường chính trị, môi trường kinh tế xã hội và mối quan hệ giữa các lực lượng trong tổ chức như sự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đến chính phủ, sự ảnh hưởng của báo chí hay khả năng của lực lượng kế toán, kiểm toán KVC (Cheng, 1992). Tại Indonesia, quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á, đã và đang chuyển dần trong việc vận dụng IPSAS vào kế toán KVC. Đối với kế toán KVC, tác động của chất lượng hoạt động kiểm toán, khuyến khích từ nhà quản lý và đặc điểm chính quyền địa phương ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin BCTC của chính phủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 địa phương. Phương pháp hồi quy đa biến đã được các tác giả sử dụng để thử nghiệm các mô hình.
Kết quả cho thấy, chất lượng kiểm toán và khuyến khích từ người quản lý có mối quan hệ tích cực đến thông tin công bố trên BCTC (Martani & Liestiani, 2010). Cùng hướng nghiên cứu này, bằng việc sử dụng các biến độc lập theo các nghiên cứu của Ingram (1984), các tác giả Walter A. Robbins và Kenneth R. Austin đã thực hiện nghiên cứu để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong BCTC của chính phủ địa phương hàng năm.
Kết quả cho thấy sức mạnh từ quản lý cho thấy sự ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin công bố (Robin & Austin, 1986). Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Úc năm 2009 đã cung cấp cách nhìn nhận vào sự hữu ích của kế toán các khoản thu nhập cho việc đo lường hiệu suất kinh tế của chính quyền địa phương trên khắp nước Úc. Thông qua nghiên cứu cho thấy rằng kế toán dồn tích được thực hiện bởi chính quyền địa phương cung cấp thông tin hữu ích như đo bởi khả năng dự đoán cho năm tới về dòng tiền hoạt động. Đồng thời, kế toán dồn tích cho chính phủ sẽ cung cấp thông tin có chất lượng cao trên các BCTC (Pinnuck & Potter, 2009).
Tương tự như vậy, tầm quan trọng của việc chuẩn hóa hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế cũng được tác giả Lasse Oulasvirta tại Đại học Tampere (Phần Lan) nghiên cứu trong bối cảnh Phần Lan vào năm 2010. Tại Phần Lan, báo cáo tình hình thực hiện ngân sách (NS) với các phụ lục và báo cáo giải thích tình hình thực hiện NS được xem là quan trọng nhất đối với kế toán KVC. Theo tác giả, trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng NS là điều cần thiết phải làm (Oulasvirta, 2010). Quá trình chuyển đổi CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích trong tiến trình áp dụng IPSAS là điều cần thiết.
Tuy nhiên, theo một nghiên cứu được rút ra từ cuộc khảo sát tại Italia năm 2007, khi hệ thống kế toán tại quốc gia này cùng tồn tại hai hệ thống kế toán dựa trên cơ sở tiền và kế toán dựa trên cơ sở dồn tích. Việc cùng tồn tại hai hệ thống kế toán này được khuyến khích nhưng bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự ảnh hưởng là rất ít. Việc cùng tồn tại hai hệ thống kế toán dồn tích và kế toán NS đã tạo nên một cuộc tranh luận về các nguyên tắc kế toán tại Italia. Chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phủ chủ yếu dựa vào báo cáo kế toán NS nên kế toán chính phủ tập trung vào những báo cáo như vậy, cho nên báo cáo trên CSKT dồn tích tuy được chuẩn bị cẩn thận đã bị bỏ qua (Eugeni & Steccolini, 2007).
Các tác giả thông qua bài nghiên cứu đã đặt ra vấn đề cho các nghiên cứu tiếp theo về kế toán KVC, đó là vai trò của hệ thống kế toán khi áp dụng các nguyên tắc kế toán truyền thống hoặc áp dụng song song hoặc tích hợp các nguyên tắc kế toán trong quá trình chuyển đổi kế toán KVC. Do đó, việc nghiên cứu nhân tố CSKT là cần thiết nhằm tìm ra CSKT tốt nhất cho việc nâng cao chất lượng TTKT tại các đơn vị công. Tại Hoa Kỳ, chính quyền địa phương tại các khu vực đã áp dụng CMKT Chính Phủ số 34 (GASB 34) để cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Chính phủ. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng GASB 34 tại các khu vực đã có sự khác biệt và tỷ lệ khác nhau trong việc áp dụng chuẩn mực này khi lập và trình bày BCTC.
đã thực hiện nghiên cứu về vấn đề này vào năm 2010. Kết quả cho thấy tỷ lệ áp dụng thấp tại chính quyền địa phương khu vực nông thôn và tỷ lệ áp dụng cao hơn tại chính quyền địa phương khu vực đô thị. Các nhân tố như nghề nghiệp chuyên môn, loại hình chính phủ, và chính phủ đã từng áp dụng BCTC theo GAAP là các nhân tố ảnh hưởng tích cực cho việc áp dụng (Patrick, 2010). Cũng theo một nghiên cứu về kế toán KVC khi áp dụng GASB 34, nghiên cứu này khảo sát 530 trường học khu vực Texas để điều tra sự thích hợp thông tin trên BCTC của chính phủ được công bố theo GASB 34.
Bằng chứng khảo sát từ mẫu nghiên cứu cho thấy rằng tổng tài sản ròng từ báo cáo tài sản thuần của báo cáo toàn chính phủ mở rộng (government-wide Statement of Net Assets), cùng với thu nhập dồn tích có điều chỉnh từ các báo cáo quỹ chính phủ, cung cấp thông tin tốt nhất để đánh giá các rủi ro (Plummer, Huchitson & Patton, 2007). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng hợp các công trình nghiên cứu trên thế giới Phƣơng pháp Các nhân tố rút ra từ các STT Tên bài nghiên cứu Tác giả Năm nghiên cứu bài nghiên cứu 1 Công bố thông tin báo cáo tài Phương pháp phân Martani, D. 2010 Chất lượng kiểm toán, chính Chính Phủ tại Indonesia tích, hồi quy & cộng sự khuyến khích từ nhà quản lý 2 Việc áp dụng GASB 34 tại Phương pháp so Patrick, P.
2010 Nghề nghiệp chuyên môn, chính quyền khu vực nông thôn sánh đối chiếu, A. loại hình chính phủ phân tích, tổng hợp 3 Chất lượng và sự bảo toàn lợi Phương pháp hồi Pinnuck, M. 2009 CSKT áp dụng nhuận kế toán tại chính quyền quy, phân tích, tổng & cộng sự địa phương hợp 4 Sự ảnh hưởng của việc tồn tại Phương pháp so Eugenio, 2007 CSKT áp dụng hai hệ thống kế toán trên cơ sở sánh đối chiếu, A. & tiền mặt và trên cơ sở dồn tích: phân tích, tổng hợp cộng sự Bằng chứng tại Italia 5 Báo cáo tài chính chính phủ Phương pháp thống Plummer, 2007 CSKT áp dụng theo GASB 34: Bằng chứng về kê mô tả, hồi quy E.
& cộng độ tin cậy thông tin sự 6 IPSAS và cải cách kế toán Phương pháp so Chan, J. 2006 CSKT áp dụng chính phủ ở các nước đang sánh đối chiếu, phát triển phân tích, tổng hợp 7 Kế toán chính phủ: đánh giá về Phương pháp phân Chan, J. 2003 CSKT áp dụng lý thuyết, mục đích và chuẩn tích, tổng hợp mực 8 Phân tích thực nghiệm lý Phương pháp phân Cheng, R. 1992 Môi trường chính trị, môi thuyết về các nhân tố ảnh tích, tổng hợp, hồi H.
trường kinh tế xã hội, nhóm hưởng đến công bố thông tin quy lợi ích, báo chí, khả năng kế kế toán chính phủ toán viên, kiểm toán viên 9 Chất lượng công bố thông tin Phương pháp phân Robbins, 1986 Nhận thức từ nhà quản lý báo cáo tài chính chính phủ: tích, tổng hợp, hồi W. & Đánh giá sự phù hợp của các quy cộng sự phương pháp đo lường Nguồn: tác giả tổng hợp Tóm lại, tác giả nhận thấy nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới được trình bày về kế toán KVC đều nhằm làm rõ sự khác biệt trong các hệ thống kế toán áp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 dụng, về nguyên tắc kế toán thì chuyển dần sang CSKT dồn tích nhằm nâng cao chất lượng TTKT trình bày trên BCTC và đều nhằm vào việc cải cách KVC theo xu hướng áp dụng các nguyên tắc, các hướng dẫn kế toán được quy định trong IPSAS. Trong một số bài nghiên cứu, các tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm kiểm định lại các giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT. Các nhân tố ảnh hưởng theo các bài nghiên cứu được thể hiện trong bảng 1.