Chương 1 đã cung cấp một cách tóm lược những nội dung cơ bản về nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành sữa tại Việt Nam. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là phân tích chi tiết thực trạng các tác nhân tham gia-trong chuỗi giá trị ngành Sữa tại Tp.HCM là địa bàn nghiên cứu, phát hiện điểm thuận lợi và những khó khăn trong quá trình hoạt động của chuỗi. Cụ thể chuỗi giá trị ngành Sữa được nghiên cứu trong bài viết này bao gồm: hộ nông dân chăn nuôi bò sữa, trạm thu mua sữa tươi nguyên liệu, và các nhà máy sản xuất chế biến thành phẩm sữa. Nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn cung cấp một cái nhìn tổng quan về chuỗi giá trị ngành Sữa tại TP.
Từ đó đưa ra những biện pháp giúp nâng cao chất lượng của chuỗi cung ứng trong ngành Sữa. 8 Chương 2: Cơ SỞ LÝ THUYÉT VÀ THựC TIỄN 2. Lý luận về chuỗi giá trị, phân tích chuỗi giá trị và những khái niệm có liên quan Toàn cầu hóa dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại thế giới, quốc tế hóa các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các tập đoàn đa quốc gia và sự sụt giảm chi phí thông tin và liên lạc. Trong thế giới hiện đại ngày nay, cách sống thay đổi rất nhiều, bao gồm cả cách thức ăn uống, nhất là đổi với tầng lớp trung lưu thành thị, do sự lan tỏa cách sống hiện đại thông qua truyền thông và du hành.
Sự thay đổi cách thức ăn uống có các đặc trưng là đa dạng, thuận tiện và phá vỡ truyền thống (Nguồn: Pingali, 2006). Ngoài ra, người tiêu dùng ở các đô thị có xu hướng sử dụng nhiều hơn thức ăn phi truyền thống nhờ vào khả năng tiếp cận tốt hơn đến các hệ thống siêu thị hoặc cửa hàng bán lẻ và các chiến dịch tiếp thị (Nguồn: Reardon và cộng sự, 2003). Một trong những xu hướng liên quan đến toàn cầu hóa hiện nay là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các thị trường hiện đại. Các thị trường hàng hóa này liên kết chặt chẽ với các hệ thống siêu thị bán sỉ, lẻ quy mô lớn.
Các thị trường này đòi hỏi khối lượng hàng hóa lớn và các sản phẩm giá thấp và phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm. Hệ thống thu mua hàng hóa của các thị trường này thường được họp nhất theo chiều dọc, tầm hoạt động mang tính toàn cầu và có độ phức tạp cao. Các thị trường kiểu này có tính năng động rất lớn, đáp ứng nhanh chóng với biến động giá, nhu cầu của người tiêu dùng và các cơ hội công nghệ mới. Quy mô doanh thu của các hệ thống thị trường hiện đại này rất lớn, và kết hợp với chi phí thấp, dẫn đến lợi nhuận chung là con số khổng lồ.
Sự tập trung của các thị trường là rất lớn, chỉ một vài tập đoàn bán lẻ đã có thể khống chế hầu hết doanh số (Nguồn: Sonja Vermeulen, Jim Woodhill, Felicity Proctor & Rik Delnoye, 2008). Sự thay đổi này dẫn đến sự thống trị thị trường nông sản của các siêu thị và sự thay đổi về thể chế và tổ chức trong suốt chuỗi tiếp thị thực phẩm. Các thay đổi này cũng gắn chặt với sự thiết lập các tiêu chuẩn tư nhân về chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm ; hình thành hệ thống mua bán, sản xuất theo hợp đồng (Nguồn: Dolan & Humphrey, 2001, trích bởi Pingali, 2006). Sự tập trung cao độ của thương mại thực phẩm và sự khống chế thị trường của một số ít nhà bán lẻ và các nhà trung gian quy mô lớn đe dọa sự tồn tại của tiểu thương và nông dân nhỏ, do 9 kém cạnh tranh và không đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra (Nguồn: Dolan & Humphrey, 2001; Reardon & Berdegué, 2002, trích bởi Pingali, 2006).
Sự liên kết dọc phát sinh do yêu cầu thích ứng với thị trường hiện đại dẫn đến việc hình thành các chuỗi giá trị hông sản thực phẩm. Chuỗi giá trị ám chỉ đến một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Nguồn: Kaplinsky 1999; Kaplinsky và Morris 2001). Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi đều hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi. Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.) để biển nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ.
Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên vật liệu và chuyển dịch theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, chế biến v. Chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp như sản xuất hàng hóa cơ bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài chính, đóng gói và tiếp thị (Nguồn: Sonja Vermeulen et al. Khái niệm chuỗi giá trị bao gồm cả các vẩn đề về tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi. Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trường.
Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như nước, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm. Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống. Cách tiếp cận của chuỗi giá trị theo nguyên tắc là xem xét từng tác nhân tham gia trong chuỗi và quan hệ một bước tiến, một bước lùi, bắt đầu từ sản xuất nguyên vật liệu cho đến người tiêu dùng cuối cùng. Phân tích chuỗi giá trị mô tả các hoạt động trong và xung quanh tổ chức và liên hệ chúng tới việc phân tích các thế mạnh cạnh tranh trong tổ chức.
Vì thế nó đánh giá các giá trị nào mà các hoạt động riêng rẻ sẽ tăng thêm cho sản phẩm và dịch vụ của tổ chức. Ý tưởng này được 10 xây dựng dựa trên các yếu tố bên trong của tổ chức hơn là sự tập hợp các yếu tố về máy móc, thiết bị, con người và tài chính. Chỉ có những điều này được sắp xếp vào hệ thống và các hoạt động hệ thống, thì điều hoàn toàn có thể xảy ra là khách hàng có thể trả cho nó một cái giá cao hơn. • Có ba dòng nghiên cứu chính trong tài liệu chuỗi giá trị được phân biệt như sau: - Khung khái niệm của Porter (2004) - Phân tích ngành hàng - Tiếp cận toàn cầu do Kaplinsky (1999), Gereffi (1994; 1999; 2003) và Gereffi, và Korzeniewicz (1994) đề xuất Porter (2004) cho rằng khả năng để thực hiện những hoạt động riêng biệt này và để quản lý kết nối giữa các hoạt động này là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh.
Porter phân biệt các hoạt động chính yểu và các hoạt động hỗ trợ. Các hoạt động chính yếu liên quan trực tiếp đến việc tạo ra và phân phối các sản phẩm và dịch vụ. Chúng có thể phân thành 5 nhóm: hậu cần đầu vào (bao gồm việc tiếp nhận, bảo quản, kiểm soát hàng tồn kho, vận chuyển ,v.), hoạt động sản xuất (bao gồm vận hành máy móc, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm tra và tất cả các hoạt động khác tạo nên giá trị mà nó truyền giá trị từ khâu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng), hậu cần đầu ra (hoạt động đòi hỏi việc cung cấp thành phẩm đến tay khách hàng: kho bãi, hoàn tất đơn hàng, vận chuyển, quản trị phân phối), tiếp thị và bán hàng (các hoạt động liên quan đến việc tìm cách làm cho khách hàng mua hàng bao gồm lựa chọn kênh phân phối, quảng cáo, khuyến mại, bán hàng, chính sách giá cả, quản trị bán lẻ, v.) và dịch vụ (các hoạt động duy trì và gia tăng giá trị sản phẩm bao gồm hỗ trợ khách hàng, dịch vụ sửa chữa, lắp đặt, đào tạo, phụ tùng, nâng cấp, v. Mỗi một yếu tổ này sẽ được liên kết để giúp đỡ các hoạt động nhằm cải tiến hiệu quả.
Có 4 lĩnh vực của hoạt động hỗ trợ: khả năng thu mua được (thu mua các nguyên liệu, dịch vụ, phụ tùng, văn phòng, máy móc, v.), phát triển công nghệ thông tin (nhằm để hỗ trợ cho các hoạt động của chuỗi giá trị như nghiên cứu và phát triển, tiến trình tự động, thiết kế, tái thiết kế, v.), quản lý nguồn nhân lực (các hoạt động liên quan đến tuyển dụng, phát triển, đào tạo, bồi thường cho nhân viên và quản lý, v.) và cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp (bao gồm quản trị tổng quát, quản trị kế hoạch, luật pháp, tài chính, kế toán, đối ngoại, quản trị chất lượng, v.) 11 Cung Dự' trũ' Marketing LJ'H g vận hành và phân sau bán (dự Irư VỘL {lộp r. phot hãng hàng !ư. thu Ihap kH?m tra/ {xữ lý dữn (ỉyc ILI on g (láp d. hõ dữ li-ựu.TL hang, dư t: r>n h-ánrj.
cnỏl liiợr*g, trơ kn. nin, dong goi) háng, ni-ii khách hang) quáng cáo. Mua sam (VD: Ihiél bi. quãng c? --Í Phát tricn công nghệ (tniól kó.
thử nghi Quân' trị nguồn nhãn lục 1 tuyứn dung.dao tọo, hi; móng dai ngó) •fvl du till :rơ.1:MÔ hình chuỗi giá trị của M.Porter (2004) Nguồn: Porter (2004) Phân tích ngành hàng - Commodity Chain Analysis có các đặc điểm chính là: 1) tập trung /ào những vấn đề của các mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi; 2) sơ đồ hóa các lòng chảy của hàng hóa vật chất và 3) sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm. Trong ahân tích, phương pháp phân tích ngành hàng có hai đường lối phân tích chính. Đường lối thứ ihất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo 'a thu nhập và phân phối thu nhập trong ngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các thành ohần thương mại địa phương và quốc tế, và phân tích vai trò của ngành hàng đối với nền kinh :ế quốc gia và sự đóng góp của nó vào GDP. Đường lối thứ hai tập trung vào phân tích chiến lược, đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả củạ từng tác ihân tham gia ngành hàng; xây dựng các chiến lược cá nhân và tập thể.