CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về nghêu [27, 28] 1. Đặc điểm sinh học Nghêu có tên khoa học là Meretrix lyrata, tên thương mại Lyrate asiatic hard clam. Là nhóm động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, thân mềm có thể phát triển đạt kính thước 5cm trong thời gian 2 – 3 năm.
Nghêu sống ở tầng đáy nước và được thu hoạch hầu như quanh năm, nhưng thích hợp nhất là thu hoạch từ đầu tháng tư đến cuối tháng năm. Đây là loại hải sản có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Thịt nghêu ngon, lành tính được coi là đặc sản quý. Trước đây nghêu được tiêu dùng chủ yếu trong nước, nhưng những năm gần đây mặt hàng nghếu hấp đông lạnh, đóng hộp được chế biến xuất khẩu.
Thị trường tiêu thụ nghêu mạnh nhất là Mỹ và Nhật. Những nước này nhập khẩu nghêu hàng năm khoảng 120000 tấn của các nước Đông Nam Á (trong đó gần đây có Việt Nam), đem lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho khu vực đang phát triển này (300 – 400 triệu USD mỗi năm) trên thế giới đang ngày càng tăng. Chính vì vậy nghêu đã trở thành đối tượng nuôi có hiệu quả kinh tế cao của ngư dân vùng ven biển Nam Bộ. Kỹ thuật nuôi nghêu không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại có giá trị cao.
Nuôi nghêu còn là biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi này, góp phần làm sạch môi trường đáy vùng tiều ven biển. Phân loại nghêu về sinh vật học 1 do an Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS. Nguyễn Tiến Lực Trong các công trình nghiên cứu trước đây về đặc điểm hình thái, phân loại của động vật thân mềm chỉ có một số công trình mô tả một số loài thuộc giống Meretrix như: Walter (1945) mô tả ba loài Meretrix lusoria Chem, Meretrixpetechialis Lam và Meretrix tripla, Pierre (1952) mô tả một loài Meretrix meretrix (Linnaeus), Anuwat (1995) mô tả hai loài thuộc giống Meretrix là Meretrix lusoria và M. Ngoài các công trình trên chưa có công trình nào mô tả loài nghêu Meretrix lyrata ngoại trừ công trình của Habe và Sadao (1966) và công trình của Nguyễn Chính (1996).
Tuy nhiên các công trình này chỉ mô tả sơ lược bằng hình ảnh hình dạng bên ngoài của nghêu. Loài nghêu Bến Tre thuộc Meretrix lyrata (Sowerby, 1951) đã được Bộ thủy sản Việt Nam xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Hệ thống phân loại Nghêu là loài thuộc họ Ngao (Veneridae) phân bố rộng khắp thế giới. Họ Ngao có khaorng trên 500 loài, ở nước ta có khỏang 40 loài thuộc 7 giống, phân bố dọc biển từ Bắc tới Nam.
Trong đó các loài có giá trị kinh tế là Ngao dầu (Meretrix meretrix), Ngao mật (Meretrix lusoria) và Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrate). Ngao dầu Meretrix meretrix Line, 1758 (Asiatic hard clam). Vỏ lớn, chắc chắn, mép lưng có hình tam giác, mép bụng hình tròn. Hai vỏ bằng nhau, chiều dài lớn hơn chiều cao.
Đỉnh vỏ lồi nằm ở mặt lưng, gần về phía trước. Mặt vỏ phồng to, nhẵn bóng, có một lớp bì vỏ màu vàng nâu bóng như dầu. Vòng finh trưởng mịn, rõ ràng, từ đỉnh vỏ xuống, thường có những vòng màu nâu. Vân hoa trên mặt vỏ thay đổi tùy theo cá thể: Ngao nhỏ vân hoa phong phú và rất biến đổi, Ngao lớn hoa vân tương đối ổn định, thường ở phần gần mép lưng, có những vân hoa màu nâu dạng răng cưa hay dạng sóng.
Cá thể trưởng thành dài 95 mm, cao 78 mm, rộng 36 mm. Ngao mật Meretrix lusoria Rumphius. Vỏ dày chắc, dạng rất giống Ngao dầu, hình tam giác. Ngao mật có một số điểm khác với Ngao dầu: đỉnh vỏ gần như ở mặt lưng, mép sau vỏ kéo dài và vuốt nhọn như góc mái nhà.
Da vỏ láng màu vàng sữa hoặc màu vàng hơi tím. Vỏ cá thể trưởng thành dài 62 mm, cao 49mm, rộng 28 mm. 2 do an Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS. Nguyễn Tiến Lực Nghêu Bến Tre Meretrix lyrate Sowerby, 1851 (Asiatic hard clam).
Vỏ có dạng rất giống Ngao dầu, nhưng cơ thể nhỏ hơn. Mặt ngoài vỏ màu vàng sữa, một số cá thể màu nâu. Gờ sinh trưởng thô. Vỏ cá thể trưởng thành dài 55 mm.
Hình thái và cấu tạo của nghêu [26, 27] Hình 1. Hình thái và cấu tạo của nghêu 1. Hình dạng bên ngoài Cơ thể nghêu được bao bọc bởi hai vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần tròn), chiều cao bằng 0,84 ± 0,02 lần chiều dài và chiều dày bằng 0,59 ± 0,02 chiều dài. Hai vỏ gắn vào nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dây chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi dùng để mở vỏ.
Bản lề lộ ra bên ngoài có dạng hình trụ nằm bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau một khoảng 1/4 chiều dài của cạnh sau. Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên mặt có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng. Đường sinh trưởng ở gần cạnh trước gồ lên rất rõ còn ở cạnh sau tương đối nhẵn bóng. Phía trước đỉnh vỏ là mặt nguyệt hình viên đạn, nhỏ, màu trắng, xung quanh mép của mặt nguyệt có một viền màu 3 do an Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.
Nguyễn Tiến Lực nâu nhạt. Mặt thuẫn có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài cạnh sau của nó. Mặt bụng mép vỏ cong tròn. Bên trong vỏ phía dưới đỉnh vỏ và bản lề có mặt khớp.
Mặt khớp có răng khớp lại với nhau rất khít, răng khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau. Mặt khớp của vỏ trái có 4 mấu lồi và 3 hố lõm, 3 trong 4 mấu lồi dính lại với nhau ngay sát đỉnh vỏ có chẽ ba, mấu lồi phía cạnh trước ngắn, nhọn nằm riêng rẽ, mấu lồi phía cạnh sau có dạng dài, bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau, chiều dài bằng chiều dài của bản lề. Mặt khớp của vỏ phải có 3 mấu lồi và 4 lỗ hõm tương ứng với vỏ trái khi khớp lại với nhau. Mặt trong của vỏ có màu trắng, có các vết in của cơ khép vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước.
Từ vết in của cơ màng áo trở ra mép vỏ tầng xà cừ nhẵn bóng, óng ánh, từ vết in màng áo trở vào tầng xà cừ đục. Vết cơ khép vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khép vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau hình tròn. Cấu tạo bên trong của nghêu [27] Cấu tạo trong của nghêu cơ bản cũng giống như cấu tạo trong của các động vật hai mảnh vỏ khác. Cơ thể nghêu cũng chia ra làm nhiều hệ như hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ vận động và hệ thần kinh.
Nhưng nghêu là động vật bậc thấp, các hệ cơ quan phát triển còn đơn giản như hệ thần kinh chưa phát triển thành não bộ mà chỉ có một số hạch thần kinh cảm giác. Hệ tiêu hóa, hệ hô hấp phát triển mạnh hệ thống tua miệng và kênh rãnh trên mang giúp cho việc lọc thức ăn và oxy hiệu quả. Ngoài ra nghêu cũng mang những đặc điểm riêng biệt của lớp hai mảnh vỏ đó là: Màng áo: hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nột tạng của nghêu. Viền mép màng áo có nhiều mấu lồi cảm giác.
Phía trước mép của màng áo phía gần bụng dính lại với nhau hình thành hai ống (siphon) dẫn nước: ống dẫn nước vào nằm ở phía bụng và ống dẫn nước ra nằm ở phía lưng, ống dẫn nước vào dài hơn ống dẫn nước ra. Ngoài tự nhiên, nghêu vùi mình trong nền đáy, chỉ thò hai ống dẫn nước lên trên bề mặt đất và thực hiện các hoạt động như hô hấp, bắt mồi, bài tiết. Chân: chân nghêu có hình lưỡi rìu, cong và nhọn về phía trước. Mép chân mỏng và trên bề mặt của chân có nhiều rãnh rất mịn hướng từ trong ra mép chân.
Chân cấu tạo gồm nhiều sợi 4 do an Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS. Nguyễn Tiến Lực cơ thường từ trong chạy ra mép chân song song với các rãnh chân. Các sợi cơ tập trung ở các phần gốc tạo thành cơ kéo chân trước và sau, cơ kéo chân trước và sau bám vào vỏ ở vị trí sát cơ khép vỏ trước và sau về phía mặt lưng. Hệ tiêu hóa: miệng nghêu là một rãnh ngang nằm ở phía trước cơ thể, bên miệng có tấm môi ngoài, môi trong và có tiêm mao để vạn chuyển thức ăn.
Thực quản và dạ dày mỏng. Xung quanh dạ dày có các nang tiêu hóa. Thức ăn từ mang lọc được vận chuyển đến miệng bằng một hệ thống tua miệng vận chuyển liên hoàn rồi vào thực quản, lúc này thức ăn đã được thấm một số men tiêu hóa tiết ra từ tuyến nước bọt và tiếp tục được vận chuyển vào dạ dày. Tại dạ dày, thức ăn được chia làm hai loại là thức ăn có thể hấp thu và thức ăn không thể hấp thu bởi một hệ thống lọc phức tạp trong dạ dày.
Thức ăn có thể hấp thu được vận chuyển vào các nang tiêu hóa. Thức ăn không thể hấp thu được vận chuyển xuống rãnh ruột rồi thoát ra ngoài môi trường qua lỗ hậu môn nằm ở phần gốc của ống thoát nước ra. Hệ hô hấp: cơ quan hô hấp chính của nghêu lầ mang và hệ thống các mao mạch phân bố chằng chịt trong cơ thể dùng để cung cấp oxy đi nuôi cơ thể và thải khí CO2 ra ngoài môi trường. Hệ sinh dục: nghêu là động vật phân tính, con đực, con cái riêng.
Khi tuyến sinh dục thành thục ở con cái có màu vàng, con đực có màu trắng sữa phủ khắp nột tạng. Hệ tuần hoàn: gồm có tim nằm ở mặt lưng, phía dưới đỉnh vỏ. Tim gồm một tâm thất và hai tâm nhĩ được bao bọc bở màng xoang bao tim. Màng xoang bao tim mỏng trong suốt, có thể nhìn thấy tim bên trong.
Máu của nghêu không màu. Hệ bài tiết: gồm một đôi thận có màu vàng nhạt nằm đối xứng nhau ở hai bên khối nội tạng phía dưới xoang bao tim. Phân bố [5] Theo Habe (1966) thì vùng phân bố của nghêu là vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam. Ở Việt Nam nghêu phân bố chủ yếu ở vùng ven biển Nam Bộ bao gồm Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) 5 do an Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.
Nguyễn Tiến Lực (Nguyễn Hữu Phụng, 1996).