CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Hình thành và phát triển cùng nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được xem là cơ sở và động lực cho sự phát triển. Vì thế, vấn đề cạnh tranh được rất nhiều nhà kinh tế học trên thế giới nghiên cứu và tìm hiểu.
Qua nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, khái niệm về cạnh tranh được đúc kết không hoàn toàn giống nhau, nhưng mỗi công trình đều có những đóng góp nhất định. Theo giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin thì: “Cạnh tranh là sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi để thu nhiều lợi ích nhất cho mình trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Mục tiêu của cạnh tranh là bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh, giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất về tay mình” (Hội đồng Trung ương, 2005, trang 65).Porter – nhà kinh tế học Mỹ cho rằng: “Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải là tiêu diệt đối thủ mà là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh” (Ngô Kim Thanh, 2011, trang 115 - 116).
Theo cuốn Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” (Lê Danh Vĩnh & Hoàng Xuân Bắc & Nguyễn Ngọc Sơn, 2010, trang 11). Ngoài ra còn nhiều cách tiếp cận khác của nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau như Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nhấn mạnh về khả năng tạo việc làm và thu nhập tốt hơn giữa các chủ thể kinh tế, Giáo sư Scott Hoenig đề cao việc nâng cao doanh thu hơn đối thủ 10 cạnh tranh. Qua một số cách tiếp cận trên, cạnh tranh có thể được hiểu một cách khái quát như sau: Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó. Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế có lợi hơn về thị trường, khách hàng cũng như điều kiện sản xuất để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Khái niệm năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên trong thực tế cũng tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”. Nếu tiếp cận từ góc độ chủ thể thì chủ thể của cạnh tranh rất rộng như quốc gia, ngành, tổ chức, doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ. Và cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào cho thuật ngữ này. Dưới đây là một số quan điểm về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến.
Theo Hội đồng về năng lực cạnh tranh các ngành của Hoa Kỳ, có thể hiểu năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ của nền sản xuất của một nước có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài. Cách hiểu này tuy diễn tả được tính cạnh tranh nhưng chỉ trong phạm vi quốc gia, chưa đề cập đến năng lực cạnh tranh của các chủ thể khác. Theo quan điểm của diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về năng lực cạnh tranh của ngành thì lại cho rằng đó là khả năng của ngành, doanh nghiệp, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Đây có thể xem là cách giải thích khá bao quát về chủ thể cạnh tranh và diễn tả cụ thể năng lực cạnh tranh là gì.
Tuy nhiên, nói một cách dễ hiểu nhất về năng lực cạnh tranh thì năng lực cạnh tranh là khả năng mà một doanh nghiệp, một ngành hay một quốc gia có thể giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh để tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Do vậy, trên giác độ kinh tế, năng lực cạnh 11 tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm.1: Mối quan hệ giữa các cấp độ của năng lực cạnh tranh NLCT doanh nghiệp NLCT quốc gia NLCT của ngành NLCT sản phẩm Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Các cấp độ của năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện phụ thuộc lẫn nhau. Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố bao trùm nhất, là năng lực của nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân dưới thể chế điều hành vững bền. Năng lực cạnh tranh quốc gia tác động đến và được củng cố bởi năng lực cạnh tranh của các ngành hàng.
Khả năng cạnh tranh của một ngành hàng được đặt trong mối tương quan với các ngành khác trong cùng một quốc gia. Để một ngành hàng có sức cạnh tranh cao thì các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành đó và các sản phẩm của doanh nghiệp chính là hai nhân tố quyết định. Hai nhân tố này tác động qua lại lẫn nhau khi hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh qua sản phẩm và ngược lại. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Là một nhân tố cốt lõi tác động đến các năng lực cạnh tranh ở các cấp độ còn lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi, yêu cầu của khách hàng để thu được lợi ích ngày càng cao. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu định lượng và định tính. Các chỉ tiêu định lượng bao gồm thị phần và giá cả, các chỉ tiêu định tính gồm chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng và sức mạnh gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Thị phần Thị phần được định nghĩa là tỉ lệ phần trăm thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được: Thị phần = doanh số bán hàng của doanh nghiệp/ Tổng doanh số của thị trường, hoặc Thị phần = Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp/ Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường.
Thị phần càng lớn thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Thông qua chỉ tiêu này, doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh để mở rộng thị trường mới hay tăng thị phần ở thị trường hiện tại. Giá cả Giá cả cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong cơ chế cạnh tranh trên thị trường thế giới hiện nay, giá cả thấp hơn không đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh cao hơn và ngược lại.
Trong nhiều trường hợp, giá cao chính là thể hiện sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích. Đặc biệt đối với một số mặt hàng lương thực, trong đó có sữa, người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm uy tín và có chất lượng cao. Chất lượng sản phẩm Giá cả đi đôi với chất lượng là tiêu chí mà các nhà nhập khẩu luôn đặt lên hàng đầu khi tìm kiếm nguồn hàng. Một sản phẩm có thể có giá cả cạnh tranh song chưa chắc đó là sản phẩm được lựa chọn, nhất là đối với những mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng như các sản phẩm từ sữa thì tiêu chuẩn chất lượng là một nhân tố quyết định thành công giữa các nhà xuất khẩu.
Hiện nay, trong ngành sữa nói riêng và ngành thực phẩm nói chung có rất nhiều hệ thống tiêu chuẩn như: Global GAP, ISO 9001:2008, HACCP, IFS,… 13 1. Khả năng gia nhập thị trường Ngày nay, những hạn chế trong giai đoạn sản xuất đã được khắc phục do sự phát triển của khoa học công nghệ, tuy nhiên, doanh nghiệp lại gặp phải khó khăn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm bởi môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Vì vậy, doanh nghiệp nào gia nhập thị trường tốt hơn sẽ có cơ hội tồn tại cao hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Khả năng gia nhập thị trường của doanh nghiệp thường được đánh giá căn cứ vào các kênh quảng cáo và phân phối mà doanh nghiệp lựa chọn để tiếp cận thị trường.
Quảng cáo nhằm cung cấp các thông tin về sản phẩm cho khách hàng cũng như xây dựng thiện cảm và lòng tin của họ về sản phẩm. Từ đó, khuyến khích khách hàng hành động mua hàng của doanh nghiệp. Khi khách hàng có nhu cầu mua hàng, doanh nghiệp phải đảm bảo chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất thông qua hệ thống kênh phân phối của mình. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Các nhân tố nội bộ Năng lực tài chính Năng lực tài chính giúp doanh nghiệp chủ động trong việc huy động vốn để sản xuất kinh doanh, từ đó có thể huy động được nguồn hàng, sử dụng hiệu quả nguồn quỹ của doanh nghiệp vào các hoạt động đầu tư và phát triển. Khả năng tài chính của doanh nghiệp có thể được đánh giá qua quy mô vốn của doanh nghiệp đó và kênh huy động vốn. Quy mô vốn của doanh nghiệp là toàn bộ nguồn vốn dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các kênh: - Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp: Đây là khoản đầu tư ban đầu khi thành lập doanh nghiệp.