Chương 1. Cơ sở lý luận chung về chất lượng dich vụ ăn uống trong kinh doanh khách sạn; Chương 2. Thuc trang chất lượng dịch vụ ăn uống tại chuỗi khách sạn 3 sao Essence; Chương 3. Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ăn uông của chuối khách sạn 3 sao Essence.
CƠ SỞ LY LUẬN VE CHAT LƯỢNG DỊCH VU AN UONG TRONG KHACH SAN 1. Một số khái niệm 1. Chất lượng Chat lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tinh chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Với mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau.
Theo quan niệm cô dién thì: Chất lượng là mức độ phù hợp với các quy định săn về một đặc tính của sản phẩm. Theo quan niệm hiện đại thì: Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng và là mức độ làm thỏa mãn khách hàng. Nếu đứng trên góc độ là nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo, phù hợp của một sản phẩm với tập hợp các yêu cầu của tổ chức, quy cách đã được xác định từ trước. Nếu đứng trên góc độ thị trường thì chất lượng chính là việc cung cấp các thuộc tính mang lợi thế cạnh tranh nhăm phân biệt nó với các sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Nếu đứng trên góc độ người tiêu dùng thì chất lượng của một sản phẩm hay dịch vụ là khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của họ, hay nói cách khác chất lượng sản phẩm là giá trị sử dụng của nó. Theo quan niệm này thì chất lượng là một phạm trù mang tính tương đối chủ quan, chất lượng sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào cái nhìn của người sử dụng. Tiêu chuẩn ISO 8403 (TCVN 5814-94) đã định nghĩa: “Chất lượng là toàn bộ những đặc trưng của một sản phẩm hoặc của một dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn những yêu cầu đã đặt ra hoặc tiềm ân”. Dịch vụ Dé tìm hiểu về khái niệm dịch vụ ăn uống, đầu tiên phải hiểu thế nào là dịch vụ.
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải 10 quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi về quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có hé trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Theo cách hiểu khác, dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này xả ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty cung ứng dịch vụ. Theo ISO 8402: “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng đề đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Dịch vụ là một quá trình hoạt động, quá trình đó diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Mỗi loại dịch vụ mang lai cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Gia tri của dich vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Giá trị ở đây được hiểu là thỏa mãn nhu cầu mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ.
Như vậy, từ khái niệm của dịch vụ, chúng ta có thể suy ra rằng, dịch vụ ăn uống là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng dịch vụ ăn uống và khách hàng và thông qua các hoạt động của người cung ứng dịch vụ này nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng. Chất lượng dịch vụ Theo TCVN và ISO 9000 thì chất lượng dịch vụ là “mức độ phù hợp của sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua”. [6, tr 35] Chất lượng dịch vụ là sự tạo nên trừu tượng, khó nắm bắt, bởi các đặc tính riêng vốn có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ. Chất lượng chính là sự thỏa mãn của khách hàng được xác định bởi hai yếu tố là chất lượng cảm nhận và chất lượng trông đợi.
Sự thỏa mãn = Sự cảm nhận — Sự mong chờ - Néu P<E: chất lượng dịch vụ tồi, dưới mức trông đợi của khách hàng - Nếu P>E: chất lượng dịch vụ tốt, cần duy trì và cổ gắng phát huy - Nếu P=E: chất lượng dịch vụ đảm bảo thỏa mãn trông đợi của khách hàng Tóm lại chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về dịch vụ. Chất lượng dịch vu được khách hàng đánh giá dựa trên năm 11 thành phân: Tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ, sự cảm thông và phương tiện hiện hữu. Tóm lại có thể kết luận rằng “Chat lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dich vụ tổng thé của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ đầu ra, tương xứng với chi phí mà khách hàng phải thanh toán” [12, tr. Chất lượng dịch vu ăn uống trong khách sạn Chất lượng dịch vụ ăn uống được hiểu là mức cung cấp dịch vụ mà một nhà hàng — khách sạn đã lựa chọn nhằm thỏa mãn ở mức độ cao nhu cầu của thị trường khách hàng mục tiêu của mình.
Đồng thời mức cung cấp dịch vụ đã được xác định đòi hỏi phải được duy trì nhất quán trong suốt quá trình kinh doanh. Đặc điểm của dịch vụ ăn uống Cũng như dịch vụ nói chung, dịch vụ ăn uống cũng có những đặc điểm sau: 1. Tính vô hình tương đối Trước khi khách hàng đến tiêu dùng dịch vụ tại nhà hàng, họ không thể nào nhìn thấy hay cảm nhận được về các món ăn cũng như thái độ phục vụ của nhân viên tại nhà hàng mà họ quyết định sẽ dùng bữa. Đây chính là những yếu tố vô hình tồn tại trong dịch vụ ăn uống.
Điều này đem đến những khó khăn đối với cả hai phía. Đứng từ góc độ khách hàng, họ sẽ rất khó khăn trong việc đưa ra quyết định sẽ gọi món ăn nào bởi họ không thể biết trước mình món ăn đấy sẽ trông như thế nào hay mùi vị của nó ra sao cũng như chất lượng có tương xứng với giá tiền hay không. Vì vậy khách hàng có khả năng gặp rủi ro khi sử dụng dịch vụ ăn uống tại một nhà hàng mà họ chưa từng đến, chính vì vậy khách hàng thường phải tự tìm hiểu qua các nguồn tin khác nhau, cũng như đánh giá chất lượng theo mức giá cả. Cũng chính bởi vì tính vô hình này nên doanh nghiệp thường sẽ phải dựa vào các yêu tố hữu hình dé quảng bá cho mình bằng việc sử dụng hình ảnh của cơ sở vật chất, hình ảnh con người.
Bởi vì dịch vụ ăn uốn tôn tại yếu tố vô hình, nhưng cũng đồng thời tồn tại yếu tô hữu hình nên nói rằng dịch vụ ăn uống mang tính vô hình tương đối. Tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng Quá trình sản xuất và tiêu dùng của dịch vụ ăn uống chỉ thực sự bắt đầu khi khách thực hiện thực yêu cầu của họ, đơn giản như việc gọi món. Đồng thời khi đó, quá trình sản xuất cũng mới được thực hiện. Cũng có đôi khi các nhà hàng chế biến đồ ăn trước khi có yêu cầu của khách hàng, tuy nhiên dịch vụ ăn uống của khách hàng chỉ thực sự diễn ra khi có sự tham gia của đội ngũ phục vụ tại nhà hàng trong quá trình tiêu dùng của khách hàng.
Khi khách hàng bắt đầu có những cảm nhận và trải nghiệm về món ăn cũng như về người phục vụ thì đấy chính là lúc mà dịch vụ được tạo ra. Đây cũng là một điểm đặc trưng của dịch vụ ăn uống cũng như dịch vụ du lịch, nó không được sản xuất trước và vận chuyên đến nơi có người mua, mà quá trình này diễn ra đồng nhất, khi có khách hàng tiêu dùng thì dịch vụ mới được sản xuất. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên khó khăn cho người cung cấp dich vụ, mà cụ thé ở đây là nhà hàng. Khi hai quá trình này diễn ra song song với nhau, thì người đầu bếp sẽ không có thời gian để kiểm tra hay đánh giá lại chất lượng của món ăn do mình tạo ra và vô hình chung điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và uy tín của nhà hàng nếu có bất kỳ sự sai sót nào.
Chính vì vậy mà người quản lý luôn phải tìm cách để đảm bảo chất lượng của dịch vụ do bên mình sản xuất dé đáp ứng được mong đợi của khách hang va dé đảm bảo được uy tín của mình. Tính không đồng nhất Như chúng ta biết, dịch vụ ăn uống được tạo ra khi có sự tham gia của khách hàng, và có một điều rõ ràng rằng, mỗi khách hàng đều có một sở thích và cảm nhận khác nhau, cũng như yêu cầu đối với dịch vụ ăn uống cũng khác nhau. Nói cách khác, dịch vụ ăn uống phụ thuộc khá nhiều vào tâm lý của khách hàng thế nên cũng gặp phải khó khăn khi đưa ra một tiêu chuẩn cố định. Có thé các nhà hàng đều có một tiêu chuẩn chung trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, tuy nhiên không phải lúc nào nhân viên cũng có thé hoàn thành đúng và đạt các tiêu chuẩn này, thé nên việc không có sự đồng nhất trong việc cung cấp dịch vụ là điều vẫn xảy ra.
Vậy dé thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng thì các nhà hàng thường phải đa dạng hóa 13 dịch vụ ăn uống của mình cũng như đảm bảo rằng nhân viên có thể đặt mình vào vị trí của khách hàng đề đối xử với khách hàng một cách tốt nhất. Tinh dé hw hỏng và không thể cất trữ Do tính chất đồng thời của sản xuất và tiêu dùng nên dịch vụ ăn uống rất dễ hư hỏng, không có khả năng cat trữ lâu mà chỉ có thé bảo quản trong thời gian rất ngắn. Một ví dụ điển hình cho việc không thể lưu kho hay cất trữ của dịch vụ ăn uống đó là nếu một nhà hàng có bốn phòng dành cho khách VIP nhưng ngày hôm đó chỉ có ba phòng được đặt thì phòng VIP còn lại sẽ không thể cất đi và ngày mai đem ra sử dung được và nhà hàng vẫn tốn từng đấy chi phi dé duy trì hoạt động của toàn bộ nha hàng.