Chương 1- mở đâu sẽ nêu lý do hình thành, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của để tài. Chương 2- cơ sở lý thuyết sẽ giới thiệu về các khái niệm và lý thuyết, các nghiên cứu liên quan. Từ đó xây dựng giả thuyết thống kê và hình thành mô hình nghiên cứu thích hop. Ở chương 3- thiết kế nghiên cứu sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu.
Chương 4- Kết quả nghiên cứu sẽ phân tích và diễn dịch kết quả của nghiên cứu: trình bày kết quả phân tích và đánh giá các thang đo đồng thời trình bày kết quả đánh giá mô hình nghiên cứu. Chương 5 kết luận và kiến nghị sẽ tóm tắt nghiên cứu, rút ra những ý nghĩa thực tiễn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LY THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này giới thiệu tổng quan nội dung lý thuyết về dịch vụ điện tử, chất lượng dịch vụ điện tử, cảm nhận thuận tiện, sự hài lòng của khách hàng và mối quan hệ giữa các lý thuyết này, sau đó đề xuất mô hình nghiên cứu. Lý thuyết về dịch vụ và dịch vụ điện tử 2.
Dịch vụ Dịch vu (service) là một khái niệm phố biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá tri sử dụng cho khách hàng làm hài lòng nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Sự phát triển của ngành dịch vụ đặt ra yêu cầu cho những nhà nghiên cứu phải tìm ra những lý thuyết mới, phù hợp với thực tiễn hơn. Đề thay thế cho lý thuyết trọng hang hoá (Good Dominant Logic hay G-D logic) được giới marketing chap nhận một cách phô biến trước đây, Vargo va Lusch (2004) đã đưa ra lý thuyết trong dịch vụ và lý thuyết này đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong giai đoạn hiện nay.
Lý thuyết trong dịch vụ nhân mạnh vao các nội dung sau: - Xem dịch vụ là một quá trình hơn là một sản phẩm - Nhắn mạnh vào các nguồn lực tương tác (operant resources) - Gia tri được tạo ra thông qua sự kết hợp giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng chứ không phải chỉ có nhà cung cấp sản xuất và phân phối đến khách hàng. 10 Đặc điểm dịch vụ: Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thé tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng băng mat thường được. Tổng quan về dịch vụ điện tứ và ứng dụng trong lĩnh vực y tế Tại nhiều nơi trên thế giới, các bệnh viện đã sớm đưa ứng dụng dịch vụ y tế điện tử vào hoạt động chuyên khoa khám chữa bệnh và quản lý tại cơ sở của mình, nhằm giảm tải làm việc cho nhân viên y tế, dé các nhân viên y tế như bác sỹ, y tá.
tập trung vào chuyên môn, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, mục tiêu đem lại sự hai lòng cao nhất cho khách hang (Chang 2015, Yang 2015). Các ứng dụng dich vụ điện tử đối với khách hàng trong lĩnh vực y tế bao gồm: - Thông tin về bệnh viện và đội ngũ nhân viên y khoa: Truy cập vào trang web của cơ sở y tế, khách hàng sẽ tìm được đầy đủ thông tin về cơ sở y tế nơi mình khám chữa bệnh, tong quan lịch sử hình thành, hình anh, co sở vật chất, các dịch vụ cung cấp, giá cả từng dịch vụ thực hiện, địa chỉ liên hệ. Ngoài ra khách hàng còn có được nhiều thông tin về trình độ chuyên môn, bằng cấp và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên y tế khám và chữa bệnh tại cơ sở y tế đó dé có thé chon cho mình bác sỹ khám phù hợp nhất. Không những thế, khách hàng qua quá trình khám chữa bệnh còn có thể liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, gửi e-mail cho bộ phận dịch vụ khách hàng hoặc các bác sỹ điều trị với những thông tin được cung cấp trên website của bệnh viện (Liao, 2002).
- Đặt lịch khám bệnh trực tuyến: Ứng dụng y tế điện tử hỗ trợ khách hàng đặt hẹn với bác sĩ trực tuyến dựa trên lịch khám bệnh của bác sỹ tại bệnh viện hoặc phòng khám, nhằm giúp cho khách hàng chủ động hơn trong việc sắp xếp thời gian khám và tái khám bệnh, tránh tình trạng chờ đợi lay số thứ tự khám đông đúc và 11 quá tải tại các co sở y tê, tiét kiệm thời gian cho cả khách hàng và nhân viên y tê (Liao, 2002). - Thanh toán phí khám, chữa bệnh trực tuyến: Khách hàng có thể thanh toán phí khám và điều trị bệnh trước qua trang web của bệnh viện, để khi đến khám bệnh, khách hàng chỉ cần gặp bác sỹ khám và bỏ qua bước chờ đợi thanh toán phí tại quây trong bệnh viện đó. Đối với bệnh nhân có sử dụng bảo hiểm, các bệnh viện phát triển hệ thống thanh toán bảo hiểm trực tiếp (Direct Billing) để hỗ trợ bệnh nhân việc thanh toán trực tiếp với công ty bảo hiểm giúp bệnh nhân không mat thời gian và công sức làm việc với công ty bảo hiểm dé nhận lại chi phí sau khi khám va điều trị tại bệnh viện (Meyers va cộng sự, 2002). Đây là loại hình khá pho biến ở Việt Nam trong những năm gần đây.
- Bệnh án điện tử (EMRs: Electronic Medical Records): Các cơ sở y tế ngày nay đang cố gang tạo ra môi trường giao tiếp với các bệnh nhân của họ thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin để bệnh nhân có thể truy cập vào website, đăng nhập va xem được bệnh án điện tử va kết quả khám chữa bệnh trực tuyến (Ealston, 2010). Bệnh án điện tử chủ yếu là phiên bản số hóa của bệnh án bằng giấy được tao nên bởi các bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên bệnh viện. Tuy nhiên quan trọng hơn là EMRs đã giúp cho khách hàng dễ dàng truy cập vào hồ sơ y khoa của họ, thường là qua các công trang Web trực tuyến (Online Web portal). Các cong Web của EMRs là các cửa số đi vào hồ sơ y khoa của cơ quan chủ quản, thường là một bệnh viện hay một hệ thống y tế.
Những công này cũng có những giới han của nó nhưng đã khởi đầu một sự thay đổi quan trọng trong việc truy cập và tham gia của người bệnh vào trang thông tin sức khỏe của cá nhân mình. Thông qua các công Web này, khách hàng bắt đầu thấy được lợi ích khi xem, lưu giữ và hiểu biết những điều ghi trong bệnh án của ho cùng các kết quả cận lâm san, từ đó họ góp phan vào các quyết định của thây thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân. Với EMRs, các thành viên trong gia đình có thể theo dõi tình hình sức khỏe của người 12 thân thông qua việc chia sẻ tài khoản (đặc biệt cần thiết khi đi công tác xa hoặc sinh sông tại nước ngoài). Sự hỗ trợ của các dịch vụ y té dién tir nhu trén khong chi tao ra rất nhiều thuận lợi cho khách hang mà còn góp phan nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và day nhanh việc giải quyết thủ tục hành chính cho khách hàng và nhân viên y tế, qua đó góp phân đem lại sự hài lòng cho khách hàng vẻ dịch vụ y tế điện tử.
Chất lượng dịch vụ 2. Chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman và cộng sự (1988), chất lượng dịch vụ là khả năng của một tổ chức có thé đáp ứng hoặc vượt lên kỳ vọng của người tiêu dùng. Đó là sự khác nhau giữa dịch vụ mà khách hang ky vọng va dịch vụ mà họ nhận được. Dịch vụ mà khách hàng nhận được là từ kết quả của việc so sánh giữa mức độ kỳ vọng và nhận thức của họ về dịch vụ được cung cấp (Zeithaml và cộng sự, 1985).
Nếu mong đợi của khách hàng lớn hơn những gì dịch vụ mang lại, thì khách hàng sẽ cảm thay không hài long (Parasuraman va cộng sự, 1985). Parasuraman và cộng sự dua ra 5 khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability), (2)Sự đáp ứng (Responsiveness),(3) Năng lực phục vụ (Assurance), (4) Sự đồng cảm (Empathy). Chất lượng dịch vụ điện tử Theo Parasuraman và cộng sự (2005), chất lượng dịch vụ điện tử là “mức độ mà một phương tiện điện tử hỗ trợ có hiệu quả cho việc mua săm, đặt hàng và yêu cầu giao hàng trên phương tiện điện tử đó”. Ứng dụng lý thuyết trên vào lĩnh vực y tế thì chất lượng dịch vụ y tế điện tử được xem là chất lượng dịch vụ điện tử trong lĩnh vực y tế, đo lường mức độ hiệu quả và thuận tiện mà website của bệnh viện mang đến cho khách hang trong quá trình khám và chữa bệnh của minh.
Wolfinbarger & Gilly (2003) xem khái niệm chất lượng dịch vụ điện tử là “từ lúc 13 bắt đầu cho đến khi kết thúc giao dịch bao gdm tim kiém thong tin, dinh vi website, đặt hàng, tương tac dich vu khách hàng, giao hang và sự hài lòng với san phẩm được giao”. Holloway & Beatty (2008), Blut và cộng sự (2015) đã phân tích tong hợp và xây dựng khung lý thuyết về các thành tố đánh giá chất lượng dịch vụ điện tử, dẫn tới sự hài lòng của khách hang, ý định mua lặp lại và marketing truyền miệng. Từ các nghiên cứu trên, các thành tố để đánh giá chất lượng dịch vụ điện tử bao gồm: thiết kế website, tính đáp ứng, dịch vụ khách hàng và tính an toàn. Dịch vụ y tế điện tử được thiết kế mang đến sự thuận tiện cho bệnh nhân và đội ngũ nhân viên y tế trong quá trình khám và điều trị bệnh, quản lý hồ sơ bệnh án, thống kê số lượng bệnh nhân các khoa, kho dược, dụng cụ y tế, doanh số,.Tuy nhiên, dịch vụ y tế điện tử mà tác giả đề cập trong nghiên cứu này chỉ là một phần trong toàn bộ dịch vụ y tế điện tử, cụ thể nghiên cứu những chức năng mà khách hàng có thể trực tiếp sử dụng và trải nghiệm, nhăm tăng sự thuận tiện trong quá trình khám và chữa bệnh của mình.
Và hơn nữa, dịch vụ y tế điện tử chỉ là một phân hỗ trợ khách hang, chứ không phải là toàn bộ dịch vụ y tế với dịch vụ cốt lõi là hiệu quả khám và chữa bệnh giữa bác sỹ và khách hàng.