Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 4 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 tác giả đề cập đến nội dung tổng quan như cơ sở lý thuyết, các khái niệm và các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm nền tảng cho nghiên cứu và mô hình của bài nghiên cứu. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu để tiến hành các bước tiếp theo. Cơ sở lý thuyết là cơ sở lý luận cho mô hình mà tác giả đề xuất, có vai trò rất quan trọng đối với nghiên cứu.
Định nghĩa Chuỗi khối là thế hệ thứ hai được phát triển từ thế hệ khởi đầu mang tên Bitcoin với ý tưởng của một người hay nhóm người có tên Satoshi Nakamoto công bố năm 2008. Đây được coi là sổ cái công khai (Yaga và cộng sự, 2019) và tất cả các giao dịch đã thực hiện được lưu trữ trong danh sách các khối (Zheng và cộng sự, 2017), triển khai theo kiểu phân tán, tức là không có lưu trữ trung tâm và thường không chịu sự kiểm soát của cơ quan trung ương, tức là ngân hàng, công ty hoặc chính phủ. Thuật toán mã hóa bất đối xứng và đồng thuận phân tán đã được triển khai để bảo mật người dùng và tính nhất quán của sổ cái. Ở cấp độ cơ bản, chúng cho phép cộng đồng người dùng ghi lại các giao dịch trong sổ cái được chia sẻ trong cộng đồng đó, sao cho các hoạt động được thực hiện trong mạng chuỗi khối không có giao dịch nào có thể bị thay đổi sau khi được xuất bản (Yaga và cộng sự, 2019).
Công nghệ chuỗi khối có các đặc điểm chính về tính phân cấp, tính bền vững, ẩn danh và khả năng kiểm toán với kiến trúc chuỗi khối là một chuỗi, chứa hoàn chỉnh danh sách các hồ sơ giao dịch như sổ cái công khai thông thường. Các khối trong chuỗi được liên kết với nhau thông qua mỗi khối chứa giá trị băm của tiêu đề khối trước đó, từ đó tạo ra chuỗi khối (Yaga và cộng sự, 2019). Nếu muốn thay đối một khối đã tạo ra trước đó, điều này làm cho giá trị băm của khối hoàn toàn thay đổi và khiến các khối tiếp theo cũng phải thay đổi theo. Do đó, nếu ai đó muốn chỉnh sửa giao dịch trên một khối bất kỳ, họ cần phải chỉnh sửa lại toàn bộ lịch sử giao dịch trên các khối trước đó với giá trị băm tương ứng và điều này dường như không thể với 5 khả năng tính toán hiện tại.
Kiến trúc này giúp cho chuỗi khối đáp ứng được tính toàn vẹn và đáng tin cậy. Cấu trúc tổng quát của chuỗi khối được mô tả như Hình 2. Trong đó, chuỗi chính (màu đen) bao gồm chuỗi các khối dài nhất từ khối gốc (khối màu xanh) đến khối hiện tại. Khối mồ côi (orphan block) là khối màu tím, là khối được khai thác thành công trong mạng chuỗi khối nhưng có nguồn gốc (parent block) không xác định hoặc không tồn tại.
Cấu trúc của chuỗi khối Nguồn: Theymos (2011) 2. Ưu và khuyết điểm Ưu điểm: Tính phi tập trung - Tính phi tập trung là lợi ích nổi bật nhất của công nghệ chuỗi khối (Golosova và Romanovs, 2018). Vì đặc tính phi tập trung này mà các bên tham gia chuỗi khối không phải thông qua tổ chức trung gian. Điều này làm cho dữ liệu của họ bảo mật hơn và giảm rủi ro xảy ra khi chính họ là những người lưu trữ dữ liệu giao dịch của chính mình (Golosova và Romanovs, 2018).
Chuỗi khối cũng có thể xác minh và xử lý độc lập về các giao dịch để làm giảm thời gian và tiền bạc trong quá trình bảo mật. Tính bất biến - Chuỗi khối dựa trên lòng tin giữa hai hoặc nhiều cá nhân xa lạ với nhau về độ tin cậy của nó. Bởi vì có nhiều quy trình xử lý và bảng ghi chung hơn, 6 nên sự tin tưởng có thể được tăng lên nhiều hơn (Songara và Chouhan, 2017). Và do mỗi hành động được người tham gia thực hiện trên chuỗi khối đều được ghi lại, dữ liệu này không được thay đổi hay chỉnh sửa.
Dữ liệu chỉ có thể thay đổi hoặc xóa đi khi họ có khả năng xử lý đáng kinh ngạc để thay thế hoặc xóa thông tin trên tất cả các máy tính được tích hợp vào mạng lưới trước khi khối tiếp theo được ghi lại, thì việc chỉnh sửa hoặc xóa thông tin trong chuỗi khối mới khả thi. Điều này làm cho công nghệ chuỗi khối có đặc trưng không thể thay đổi và phá hủy (Golosova và Romanovs, 2018). Do đó, nếu có ít máy tính trong mạng lưới, công nghệ này sẽ dễ bị tấn công hơn; ngược lại, nếu có nhiều máy tính thì hệ thống an toàn và minh bạch hơn (Songara và Chouhan, 2017). Tính minh bạch - Tính minh bạch được thể hiện trên từng bản ghi giao dịch khi người tham gia thực hiện trên chuỗi khối thì mọi người tham gia vào mạng lưới chuỗi khối khác đều có thể thấy được trên sổ cái công khai (Golosova và Romanovs, 2018).
Điều này thể hiện tính minh bạch đặc trưng của chuỗi khối. Tính bảo mật - Bên cạnh đó, khi một thực thể tham gia vào mạng lưới chuỗi khối, tài khoản của họ sẽ liên kết tới một danh tính duy nhất được cấp (Golosova và Romanovs, 2018). Và tính bảo mật của chuỗi khối được thể hiện mạnh mẽ hơn khi nó dựa trên hàm băm mã hóa trên chuỗi mà nó tạo ra. Mỗi khối trên chuỗi đều có một giá trị băm mà không thể thay đổi.
Khuyết điểm: Yếu tố năng lượng - Vì cần rất nhiều sức mạnh xử lý để tạo ra mã băm cho mỗi khối mới, cùng đặc tính không thể thay đổi dữ liệu trong mọi thời điểm và hành động sao chép đồng thuận liên tục trên mỗi nút nên hạn chế chính của chuỗi khối là sự phụ thuộc quá nhiều vào năng lượng (Golosova và Romanovs, 2018). Khả năng mở rộng - Số lượng giao dịch ngày càng tăng làm cho chuỗi khối trở nên đồ sộ (Zheng và cộng sự, 2018), nhưng chuỗi khối cần thời gian để thực hiện do tính chất phức tạp, mã hóa và phân tán (Marr, 2018) làm cho yêu cầu xử lý hàng triệu giao dịch theo thời gian thực chưa được đáp ứng (Zheng và cộng sự, 2018). Tính riêng tư - Khi sổ cái phân tán được sử dụng trong các tình huống nhạy cảm, 7 chẳng hạn như khi xử lý dữ liệu nhạy cảm của chính phủ hoặc dữ liệu y tế của bệnh nhân, tất cả thông tin liên quan đến giao dịch đều được cung cấp công khai trong chuỗi khối, đây có thể là trách nhiệm pháp lý chính (Sarmah, 2018). Các sổ cái cần được thay đổi và chỉ những người có giấy phép cần thiết mới được phép truy cập.
Hiệu suất - Khi xử lý một giao dịch, chuỗi khối phải thực hiện những việc tương tự như cơ sở dữ liệu tập trung, ngoài ra nó còn phải kiêm những việc cần khả năng xử lý rất cao như xác minh chữ ký cho mọi giao dịch chuỗi khối, đồng thuận giữa tất cả các nút trong mạng và xử lý độc lập từng giao dịch bởi mọi nút trong mạng (Niranjanamurthy và cộng sự, 2019). Do đó, hiệu suất cũng là một vấn đề quan ngại của chuỗi khối. Chuỗi khối trong giáo dục Chuỗi khối có khả năng trở thành cuộc cách mạng cho giáo dục đại học thông qua các đặc điểm ưu việt về tính xác thực, tính minh bạch, tính bất biến và sự tin cậy (Grech và Camilleri, 2017). Với các ưu điểm của lưu trữ phi tập trung (Raval, 2016) tạo nên tiềm năng phát triển một loạt các ứng dụng khác nhau từ quá trình quản lý văn bằng và đánh giá tổng kết kết quả học tập (Skiba, 2017), hồ sơ sinh viên (Palma và cộng sự, 2019), trao đổi và xác thực thông tin (Raval, 2016), thư viện (Coghill, 2018), các chứng chỉ số (Kanevche và cộng sự, 2021).
Quá trình áp dụng chuỗi khối vào giáo dục đại học không chỉ cải thiện các điểm yếu về tính tin cậy, tính thủ tục cho tổ chức giáo dục đại học truyền thống mà còn tạo điều kiện cho sinh viên và nhà tuyển dụng có khả năng kiểm soát tốt hơn thông qua hồ sơ giáo dục “mở” (Palanivel, 2019). Bằng khả năng cung cấp quyền truy cập linh hoạt vào nội dung hay các chứng chỉ số để chứng minh và giúp thông tin trở nên tin cậy hơn. Ngày nay, một số trường đại học, viện giáo dục và tổ chức giáo dục đã ứng dụng công nghệ chuỗi khối vào giáo dục như đại học Nicosia, viện Massachusetts, cơ sở giáo dục toàn cầu của Sony (Fedorova và Skobleva, 2020) hay sử dụng các mô hình, giải pháp cho quản lý như Blockcert (Blockcert, 2018), SCi-B (Anwar và cộng sự, 2022). Tuy có sự phát triển về các nghiên cứu ứng dụng chuỗi khối trong giáo dục đại học (Raimundo và Rosário, 2021), nhưng tỷ lệ chấp nhận vẫn còn khan hiếm khi 8 chỉ có vài tổ chức giáo dục triển khai, đây là một trong những lý do chính đáng sau việc tiến hành các nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng và chấp nhận của người dùng (AlShamsi và cộng sự, 2022).
Vì vậy, quá trình ứng dụng chuỗi khối vào giáo dục đại học cũng còn nhiều thách thức và các yếu tố lòng tin, chi phí là hai trong các yếu tố cơ bản ảnh hướng đến quá trình ứng dụng khiến nhiều tổ chức giáo dục đại học chưa sẵn sàng áp dụng công nghệ chuỗi khối (Raimundo và Rosário, 2021). Mô hình chấp nhận công nghệ Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) được phát triển bởi Davis (1989) từ Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA). TAM là một trong những mô hình nghiên cứu phổ biến nhất để dự đoán việc chấp nhận, sử dụng công nghệ và hệ thống thông tin của cá nhân người dùng (Surendran, 2012). Cụ thể là mô hình này cung cấp cơ sở để theo dõi các yếu tố bên ngoài tác động đến lòng tin, thái độ và ý định bên trong (Davis, 1989).
Hai yếu tố dự báo sự chấp nhận người dùng của bất kỳ công nghệ là nhận thức hữu ích và nhận thức dễ sử dụng. Nhận thức tính hữu ích được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ nâng cao hiệu suất của họ (Davis, 1989). Nhận thức dễ sử dụng được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ không tốn công sức (Davis, 1989).