Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học Cuốn sách chuyên khảo mang tên “Quản lý nhà nước về giáo dục đại học: Kinh nghiệm của Trung Quốc và khuyến nghị đối với Việt Nam” do tác giả Mai Ngọc Anh biên soạn, là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước KHGD/16- 20.ĐT003, thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ quốc gia giai đoạn 2016 – 2020. Cuốn sách tập trung phân tích, đánh giá hệ thống chính sách đối với giáo dục đại học và kết quả thực hiện chính sách phát triển giáo dục đại học và kết quả thực hiện hiện chính sách phát triển giáo dục đại học của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay trên bốn phương diện lớn: (i) Chiến lược phát triển giáo dục đại học, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, đầu tư ngân sách và ngành đào tạo trọng điểm; (ii) Chính sách, quy định về tự chủ đại học; (iii) Quản lý nhà nước đối với đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và kiểm định chất lượng đại học và (iv) Chính sách, quy định đối với hỗ trợ sinh viên. Đồng thời, tác giả đã phân tích thực trạng chiến lược, chính sách đối với phát triển giáo dục đại học của Việt Nam thời gian qua và đề xuất một số khuyến nghị về giáo dục đại học ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với ĐNGV, nhóm tác giả đã có những phân tích, so sánh giữa quá trình quy hoạch, thu hút, tuyển dụng, sử dụng, tôn vinh và đãi ngộ giữa Việt Nam và Trung Quốc; đồng thời khuyến nghị một số giải pháp cần thực hiện để thu hút và khuyến khích Tác giả Đoàn Văn Dũng trong Luận án Tiến sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học”1 đã làm rõ nội hàm, các yếu tố cấu thành của khái niệm “chất lượng giáo dục đại học”, vai trò của Nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học và các nội dung quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học. Theo tác giả, một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học 1 [40] 6 đó là “Hoàn thiện chiến lược và chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng tập trung vào việc xác định tầm nhìn, mục tiêu cho giáo dục đại học và những yếu tố tác động trực tiếp vào chất lượng giáo dục đại học” mà trong đó, cần tập trung hoàn thiện nhóm chính sách về phát triển ĐNGV và cán bộ quản lý trường đại học. Theo đó, đối với ĐNGV, cần tiến hành cải cách trong việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch, đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến tuyển dụng giảng viên. Cần nghiên cứu và phát triển các cơ chế, chính sách nhằm thu hút những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, sinh viên từ các lớp cử nhân tài năng và kỹ sư chất lượng cao để trở thành giảng viên.
Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách thu hút các cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao, cả trong và ngoài nước, tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Thêm vào đó, cần thiết lập bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp cho giảng viên và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy về cả năng lực chuyên môn lẫn kiến thức và nghiệp vụ sư phạm; ba là, cần đổi mới công tác quản lý, sử dụng, đánh giá và sàng lọc đội ngũ giảng viên theo hướng phân công và phân cấp trách nhiệm, quyền hạn. Đồng thời, cần giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học. Cuối cùng, cần bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ giảng viên sao cho tương xứng với thành tích và năng lực cá nhân.
Cần điều chỉnh chính sách lương, phụ cấp ưu đãi và cơ chế đãi ngộ phù hợp nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo động lực và điều kiện cho đội ngũ giảng viên nâng cao năng lực và trình độ. Bài viết “Quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học”2 của tác giả Phạm Thị Hạnh Phương khẳng định vai trò của QLNN đối với giáo dục đại học có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lực, hiệu quả của giáo dục đại học. QLNN đối với giáo dục đại học, giúp xây dựng môi trường pháp lý và ngăn ngừa, xử lý vi phạm pháp luật trong giáo dục đại học; xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy QLNN về giáo dục đại học hoạt động thống nhất, hiệu quả; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học. 2 [73] 7 Bằng việc thống kê số liệu, kết quả đào tạo giáo dục đại học trong những năm học qua, tác giả đã phân tích thực trạng những hạn chế còn tồn tại của giáo dục đại học nước ta: Hệ thống giáo dục đại học ở nước ta phân bố không đồng đều trong các vùng miền và cơ cấu ngành nghề đào tạo còn nhiều bất cập; giáo dục bậc cao như thạc sỹ, tiến sỹ không đào tạo tập trung, ngoại ngữ yếu nên không tiếp cận được kịp thời kiến thức hiện đại của thế giới; chương trình, giáo trình biên soạn thiếu đồng bộ, chưa nhanh chóng tiếp cận với chương trình, giáo trình hiện đại của thế giới để thực hiện đào tạo liên thông với các cơ sở giáo dục đại học quốc tế.
Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo còn hạn chế. Cơ sở vật chất của các trường đại học đã có sự cải thiện nhất định, nhưng nhìn chung, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục trong toàn hệ thống. Đặc biệt, về thực trạng ĐNGV: Số lượng giảng viên được đào tạo ở nước ngoài còn ít, số lượng giảng viên Việt Nam tham gia giảng dạy ở các trường đại học quốc tế lại càng ít. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để đến năm 2030, giáo dục đại học đạt mục tiêu có khoảng 20 đại học hàng đầu khu vực và khoảng 10 đại học trong tốp 1.000 đại học thế giới.
Trước hết, phải xây dựng ĐNGV giỏi, sinh viên giỏi để đào tạo kỹ năng về tin học, kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng nghề thích ứng với các ngành nghề hiện đại. Hai là, đa dạng hóa các nguồn tài chính để các cơ sở đại học đủ khả năng thu hút người tài trong và ngoài nước đến giảng dạy, biên soạn chương trình, giáo trình hiện đại, chuyển từ việc đầu tư nguồn lực chủ yếu từ Nhà nước sang sự chia sẻ và đóng góp của các bên liên quan, trong đó có cả người học và doanh nghiệp, bảo đảm tính bền vững về tài chính của hệ thống giáo dục đại học thông qua việc giảm bớt sự phụ thuộc của các trường đại học vào nguồn của Chính phủ, yêu cầu tất cả các bên liên quan có hưởng lợi trực tiếp từ trường đại học cũng phải đóng góp. Ba là, cần nhanh chóng đổi mới mô hình quản lý và quản trị đại học. QLNN về giáo dục, đào tạo phải theo tư duy mới, nhanh hơn, hiệu quả hơn để giao quyền tự chủ cho các cơ sở đại học; phát triển hài hòa hệ thống đại học công lập và ngoài công lập, hài hòa hóa các quy định cho các trường tư thục và công lập, chuyển đổi từ hệ 8 thống dành cho trường đại học hiện đang mang tính tập quyền cao độ từ phía Chính phủ sang mô hình dựa vào tự chủ trong khuôn khổ.
Nhà nước cần có một Hội đồng giáo dục quốc gia đủ mạnh để xây dựng chiến lược và quy hoạch lại hệ thống giáo dục đại học hiện đại. Nâng cao năng lực hệ thống giáo dục đại học là con đường sớm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đầu tư vào hệ thống giáo dục đại học là một trong những ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển cơ sở hạ tầng cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Vì vậy, cần phải nhanh chóng thay đổi tư duy và hành động nhằm nâng cao năng lực của hệ thống giáo dục đại học, trong đó mỗi cơ sở đại học cần chủ động thực hiện sự đổi mới của chính mình.
Bài báo khoa học “The Changing Role of Governance in China’s Higher Education System”3 (Tạm dịch: Sự thay đổi vai trò trong quản trị của hệ thống giáo dục đại học của Trung Quốc) của nhóm các tác giả Hu Liu, Lu Feng, Jianjing Tang tập trung nghiên cứu những tác động của chính sách giáo dục đại học từ khi thành lập nhà nước Trung Quốc vào năm 1953 đến năm 2013 thông qua việc phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật và chính sách của Chính phủ Trung Quốc về quản lý giáo dục đại học và phân tích mối quan hệ giữa chính quyền trung ương, chính quyền cấp tỉnh với các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, tác giả còn xác định những khó khăn và thách thức mà Chính phủ Trung Quốc phải đối mặt trong khi đổi mới giáo dục đại học và đề xuất các chiến lược để giải quyết tình trạng đầy thách thức này. Bài báo phân tích thực trạng từ chính quyền tỉnh Quảng Đông để xem xét, đánh giá vai trò của chính quyền tỉnh Quảng Đông trong quá trình đổi mới và phát triển giáo dục đại học địa phương. Các kiến nghị của tác giả đối với việc chuyển đổi vai trò của Chính phủ trong quản lý giáo dục đại học tại Trung Quốc: Thứ nhất, chính phủ Trung Quốc cần chuyển đổi vai trò từ quản lý, điều hành trực tiếp các cơ sở giáo dục đại học sang định hướng, quản lý nhà nước về các trường 3 [100] 9 đại học bằng cơ chế tự chủ đại học.
Hay nói cách khác, chính phủ nên chuyển vai trò của mình từ kiểm soát của nhà nước sang giám sát của nhà nước, tăng tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học. Thứ hai, Chính phủ cần cải thiện hệ thống hoạch định chính sách tự chủ đại học, định hướng, hỗ trợ và nâng cao việc liên kết, phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học. Trong quá trình hoạch định chính sách, chính phủ cần có tầm nhìn đầy đủ về sự phát triển của từng giai đoạn. Ở giai đoạn hoạch định chính sách, chính phủ cần xem xét chức năng và mục đích cơ bản của hoạch định chính sách, đó là mở rộng và thực hiện quyền tự chủ đại học.