Chương 1, nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về vẫn đề nghiên cứu. Điều này bao gồm thảo luận về lý do lựa chọn chủ đề nghiên cứu, cũng như xác định rõ ràng các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Chương này cũng nêu rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Hơn nữa, chương này trình bày sơ lược các phương pháp thông kê sẽ được sử dụng cho mục đích lay mau và phân tích dữ liệu.
Điều này giúp phác thảo các cách tiếp cận phân tích sẽ được áp dụng trong nghiên cứu. Cuối cùng, chương này nêu bật những đóng góp tiềm năng của nghiên cứu, cả về mặt lý thuyết và thực tiễn. Ngoài ra, nó giới thiệu cấu trúc và tổ chức tổng thê của nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Học tập kết hợp 2. Khái niệm học tập kết hợp Môi trường kết hợp bao gồm cả thành phần trực tiếp, trong đó sinh viên cần tham gia các hoạt động thể chất với giáo viên và các bạn cùng lớp khác, và thành phần trực tuyến, bao gồm các hoạt động mà sinh viên phải hoàn thành một cách độc lập thông qua việc sử dụng công nghệ và hệ thống hỗ trợ, với sự trợ giúp của Internet (Hung và Chou, 2015; Padilla Meléndez và các cộng sự, 2013). Torrisi-Steele (201 1) định nghĩa học tập kết hợp là “trải nghiệm học tập phong phú, lấy sinh viên làm trung tâm được thực hiện bằng cách tích hợp hài hòa các chiến lược khác nhau, đạt được bằng cách kết hợp tương tác trực tiếp với công nghệ thông tin và truyền thông”. Học tập kết hợp được Thorne (2003) mô tả là “một cách đáp ứng những thách thức trong quá trình điều chỉnh việc học tập và phát triển theo nhu cầu của cá nhân bằng cách tích hợp những tiến bộ công nghệ và đổi mới do học tập trực tuyến mang lại với sự tương tác và tham gia tốt nhất của học tập truyền thống”.
Lawless (2019) lap luan rang “hoc tap két hợp là một cách tiếp cận giáo dục kết hợp giữa các tài liệu giáo dục trực tuyến và cơ hội tương tác thông qua các phương pháp giảng dạy tại địa điểm truyền thông”. Khái niệm học tập kết hợp được xác định bởi Heinze và các cộng sự (2004) là một hình thức học tập bao gồm sự kết hợp của các phương pháp truyền đạt, mô hình giảng dạy và phong cách học tập khác nhau và dựa trên sự giao tiếp cởi mở giữa tất cả những người tham gia khóa học. Driscoll (2002) định nghĩa học tập kết hợp bằng cách phân loại khái niệm thành bốn nhóm khác nhau: “kết hợp các phương thức của công nghệ dựa trên web dé hoàn thành mục tiêu giáo dục; kết hợp các phương pháp sư phạm khác nhau để tạo ra kết quả học tập tối ưu khi có hoặc không có công nghệ giảng dạy; kết hợp bất kỳ hình thức công nghệ giảng dạy nào với đào tạo trực tiếp do người hướng dẫn hướng dẫn; tạo ra sự kết hợp hoặc đào tạo thực tế hoặc kết hợp công nghệ để tạo ra các nhiệm vụ 10 công việc.” Định nghĩa về học tập kết hợp cũng đã được đưa ra trong Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT: “Đào tạo kết hợp (blended learning) là việc kết hợp phương thức học tập điện tử (e-learning) với phương thức dạy - học truyền thống (theo đó người dạy và người học cùng có mặt) nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và chất lượng giáo dục”. Tóm lại, học tập kết hợp là hình thức học tập kết hợp học tập trực tiếp theo phương thức truyền thống với học tập trực tuyến, cho phép cách tiếp cận linh hoạt hơn trong thiết kế chương trình.
Loại hình học tập này được đặc trưng bởi một quá trình học tập năng động, thay đồi và tích cực, với một phần học tập diễn ra trực tuyến, trong khi phần còn lại diễn ra trong lớp học. Các thành phần trực tuyến và trực tiếp của quá trình học tập kết hợp bổ sung cho nhau, tạo ra trải nghiệm học tập tích hợp. traditional blended class learning Hình 2. Cơ chế học tập kết hợp Nguôn: Tayebinik va Puteh (2013) Sinh viên tham gia học tập kết hợp không bị giới hạn chỉ dựa vào tài liệu do giáo viên cung cấp mà còn có thê tìm kiếm tài liệu theo nhiều cách khác nhau, bao gồm tìm kiếm qua thư viện, trò chuyện trực tuyến với bạn bè cùng lớp, tìm kiếm qua web, tìm kiếm dựa vào công cụ tìm kiếm, tìm kiếm qua cổng thông tin, tìm kiếm trên blog và các phương tiện khác như phần mềm học tập hoặc phần mềm hướng dẫn (Taebinik và Puteh, 2013).
Tỷ lệ nội dung được phân phối trực tuyến Tỷ lệ nội dung được phân phối | Loại khóa học Mô tả trực tuyến Khóa học không sử dụng công nghệ trực 0% Truyện thống | tuyến — Nội dung được cung cấp bằng văn bản hoặc nói trực tiếp. Khóa học sử dụng công nghệ đựa trên web dé tao diéu kiện thuận lợi cho khỏa 1% dén 29% Web hỗ trợ học trực tiếp. Sử dụng hệ thông quản lý khóa học hoặc trang web đề đăng giáo trình và bài tập. Khóa học kết hợp học trực tuyến và trực.
Phân lớn nội dung được phân phôi trực 30% đến 79% Hỗn hợp. Zs ot ae tuyên, thường sử dụng các cuộc thảo luận trực tuyển và thường có một số cuộc gặp mặt trực tiép. Một khóa học trong đó hâu hết hoặc tất tein BORE Trực tuyến cả nội dung được cung cấp trực tuyến. Thông thường không có cuộc gặp mặt trực tiếp.
Nguôn: Allen và các cộng sự (2007) Bảng trên cho thầy một tiết học có thể gọi nói là kết hợp khi tỷ lệ chiếm từ 30 đến 79% đói với nội dung được cung cấp trực tuyến. Học tập kết hợp khuyến khích các nhà giáo dục chuyền từ việc học tập lấy giáo viên làm trung tâm sang việc học tập lấy sinh viên làm trung tâm. Các cách tiếp cận khác nhau về học tập kết hợp Mặc dù thực tế là học tập kết hợp cung cấp một mô hình thiết kế trong đó cả học tập trực tiếp và trực tuyến đều được hỗ trợ bởi sự hiện điện của nhau, Garrison và Vaughan (2008) lập luận rằng khái niệm học tập kết hợp không chỉ đơn giản là kết hợp giữa học trực tiếp và học trực tuyến. Carman (2005) đề xuất năm thành phần được xác định là thành phần thiết yếu trong quá trình học tập kết hợp: các sự kiện trực tiếp thúc đây người học; nội dung trực tuyến, cho phép người học làm việc độc lập theo tốc độ riêng của họ; hợp tác, 12 khuyến khích người học cộng tác và học hỏi lẫn nhau; đánh giá, giúp người học hiểu được những gì họ đã học; và các tài liệu tham khảo kịp thời giúp cải thiện việc ghi nhớ và chuyền giao kiến thức.
Rovai va Jordan (2004) xem học tập kết hợp như một phương pháp nhắn mạnh việc học tập tích cực thông qua hợp tác và xây dựng sự hiểu biết mang tính xã hội. Điều này được thể hiện rõ ràng trong cách tiếp cận được minh họa bởi Dzuiban, Hartman và Moskal (2004), trong đó họ mô tả việc học tập kết hợp như một sự thiết kế lại mô hình giảng dạy bao gồm: Chuyên đổi từ cách tiếp cận từ dựa lấy giáo viên làm trung tâm sang lấy sinh viên làm trung tâm, trong đó sinh viên trở thành những người học tích cực và tương tác trong cả hai hình thức trực tiếp và trực tuyến; Tăng cường tương tác giữa sinh viên-giáo viên, sinh viên-sinh viên và sinh viên-nguôn lực hỗ trợ; Tích hợp các cơ chế đánh giá quá trình và tổng kết. Theo David Nagel (201 1), có sáu mô hình học tập kết hợp: Mô hình giảng dạy trực tiếp Face-to-face driver: giáo viên sử dụng phương pháp học tập trực tuyến trong môi trường lớp học truyền thống, như một hình thức giảng dạy bổ sung hoặc khắc phục; Mô hình luân phiên Rotation: cho phép sinh viên chuyển đổi giữa lớp học trực tuyến và truyền thống; Mô hình học tập linh hoạt Flex: trong đó chương trình giảng dạy chủ yếu được cung cấp thông qua nền tảng trực tuyến và giáo viên hỗ trợ tại chỗ; Mô hình phòng thực hành trực tuyến Labs: bao gồm việc cung cấp một khóa học trực tuyến trong lớp học vật lý hoặc phòng thực hành. Mô hình tự học Self-blend: khuyến khích sinh viên tự mình chọn khóa học mà họ muốn tham gia trực tuyến bên cạnh danh mục khóa học cố định của trường.
Mô hình trình học tập trực tuyến Online Driver: trong đó các khóa học chủ yếu được cung cấp thông qua nền tảng trực tuyến, với cơ sở vật chất chỉ được sử dụng cho các hoạt động bên ngoài như điểm danh và các 13 chức năng tương tự. Học tập kết hợp là một khái niệm rộng được mở rộng bởi Alan Clarke (2004): Các bài giảng thông thường với tài liệu giảng dạy và phương tiện trực quan được trình bày trên mạng nội bộ của trường mà sinh viên có thể truy cập. Máy ảnh kỹ thuật số được sử dụng để ghi lại các hoạt động trong thế giới thực nhằm mục đích cung cap bang chứng về thành quả. Học tập kết hợp cho phép sinh viên nộp tất cả các bài tập dưới dạng điện tử và nhận phản hồi dưới dạng chú thích.
Sinh viên sẽ có cơ hội giao tiếp với gia sư thông qua email và hội nghị truyền hình thay vì hướng dẫn trực tiếp. Mô phỏng các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm sẽ được đưa vào như một phần của khóa học khoa học. Một khóa học từ xa sẽ được cung cấp bên cạnh các cuộc gặp trực tiếp thường xuyên. Carman (2005) xác định năm nguyên tắc chính để thực hiện việc học tập thông qua hình thức học tập kết hợp, bao gồm: Sự kiện Live, các buổi học trực tiếp diễn ra cùng thời gian và địa điểm hoặc cùng lúc nhưng ở một địa điểm khác.
Học theo nhịp độ riêng, một hình thức học tập kết hợp việc học theo nhịp độ riêng với khả năng học bắt kỳ lúc nào - bất kỳ địa điểm nào thông qua trực tuyến. Hợp tác, kết hợp giữa sự hợp tác của giáo viên và sự hợp tác của người học. Đánh giá, người thiết kế chương trình học tập kết hợp cần biết cách tạo các bài kiểm tra và bài học thông thường ở cả định dạng trực tuyến và ngoại tuyến. Hỗ trợ tài liệu, tài liệu được sản xuất ở dạng kỹ thuật số, cung cấp cho người học cả ngoại tuyên và trực tuyên.