Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trên thế giới tình trạng khai thác nguồn tài nguyên quá mức, săn bắn động vật hoang dã trái phép diễn ra với quy mô xuyên quốc gia đã và đang làm giảm và cạn kiệt nguồn tài nguyên có nguồn gốc từ rừng, một số loài có nguy cơ tuyệt chủng.Bài toán đặt ra để giảm nguy cơ này thì nghề chăn nuôi thuần dưỡng các loài động vật hoang dã cũng góp phần không nhỏ giải quyết vấn đề này có ý nghĩa bảo tồn sinh học, giảm áp lực săn bắt động vật hoang dã. Chăn nuôi động vật hoang dã không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà nó còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo tồn hoặc cứu nguy các nguồn gen đang có nguy cơ bị tiệt chủng, hiện nay tại các vườn động vật trên thế giới đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xương sống ở cạn, đại diện cho 3000 loài chim, thú, bò sát, ếch nhái Theo Conway (1998). Mục đích phần lớn của các vườn động vật hiện nay là gây nuôi các quần thể động vật quý hiếm, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và phục vụ thăm quan du lịch giải trí và bảo tồn đa dạng sinh học.
Việc nghiên cứu trong các vườn động vật cũng đang được chú trọng. Các nhà khoa học đang cố gắng tìm các giải pháp tối ưu để nhân giống, phát triển số lượng. Để hoàn thiện kỹ thuật nhân nuôi, nắm rõ sinh thái và tập tính của động vật hoang dã được nhân nuôi nhằm mang lại hiệu quả cũng là vấn đề cần chú trọng. Một số quốc gia có nghề nhân nuôi động vật hoang dã phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Đức và Thái Lan.
Tuy nhiên tài liệu nước ngoài về nhân nuôi động vật hoang dã rất ít và khó chọn lọc. Một số công trình ngoài nước có thể kể đến như: - Gà tiền hải nam (Polyplectron kastumatae) của Liang W. (2011): Loài chim rừng nhiệt đới nguy cấp và quý hiếm. Nhóm tác giả cho rằng, Gà tiền hải nam thường sống đôi vào mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 4 5.
Tổ của chúng thường làm trên mặt đất, dựa vào gốc cây hoặc dưới các tảng đá với vật liệu làm tổ là lá khô và cỏ. Gà tiền hải nam đẻ mỗi lứa từ 1 đến 2 trứng và thời gian ấp từ 20 - 22 ngày. - Kỹ thuật nhân nuôi rắn độc, trình bầy đặc điểm hình thái, sinh học kỹ thuật chăn nuôi của Từ Phổ Hữu (Quảng Đông-Trung Quốc, năm 2001), (chuồng trại, thức ăn, chăm sóc, bệnh tật và cách phòng tránh…) cho mười loài rắn độc kinh tế. - Kỹ thuật thực hành nuôi dưỡng động vật kinh tế, trình bầy những yêu cầu kỹ thuật cơ bản chăn nuôi nhiều loài thú, chim, bò sát, ếch nhái, bọ cạp, giun đất…của tác giả Cao Dực (Trung Quốc, 2002) 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu ĐVHD Hiện nay cả nước có hơn 4.000 cơ sở nhân nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) với gần 2 triệu cá thể, gồm lớp ếch nhái, bò sát, chim, thú, với 136 loài. Phần lớn là các loài quý hiếm, có giá trị bảo tồn, giá trị kinh tế cao như: Cá sấu, Rắn hổ mang, Ba ba, Kỳ đà, Tắc kè, Trăn, Hươu, Nai, Lợn rừng, Rắn hổ mang, Nhím. Các cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã quy mô tập trung, với nhiều loài có thể kể đến là: Vườn thú Hà Nội, Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Trung tâm cứu hộ Sóc Sơn. Nhân nuôi ở các hộ gia đình: nuôi Hươu sao ở Quỳnh Lưu, Hương Sơn (Nghệ Tĩnh), nuôi Nai (ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), nuôi khỉ (ở đảo Rều, Ninh Bình), làng nghề Cá sấu ở TPHCM, nuôi rắn (ở Vĩnh Sơn, Phú Thọ), nuôi Ếch, Ba ba ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng, nuôi Voi ở Bản Đôn, nuôi Rắn hổ mang ở Lệ Mật - Gia Lâm (Hà Nội), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc).
việc chăn nuôi ĐVHD ở nước ta còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa phải là ngành sản xuất hàng hóa để có thể trở thành một ngành kinh tế nông nghiệp mũi nhọn, kết hợp gây nuôi, kinh doanh, bảo tồn với du lịch. Tài liệu chuyên khảo và các công trình nghiên cứu về kỹ thuật nhân 5 nuôi động vật hoang dã ở nước ta còn tương đối ít. Một số các công trình nghiên cứu chính có thể kể đến là: Năm 1975 công trình nghiên cứu “Động vật kinh tế - tỉnh Hòa Bình’’của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, đã giới thiệu sơ bộ về hình thái phân bố, nơi sống, tập tính, thức ăn, đặc điểm sinh sản, và giá trị của các loài động vật có giá trị kinh tế cao của tỉnh Hòa Bình, như Hươu Sao, Nai, Khỉ Vàng, Cầy Vòi Mốc, cầy Vòi Hương, Nhím, Don… Đặng Huy Huỳnh Nghiên cứu sinh học và sinh thái các loài thú Móng Guốc ở Việt Nam (1986). Trình bày khái quát đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thú móng guốc có giá trị kinh tế cao của Việt Nam, trong đó có một số loài đang được chăn nuôi.
Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, Đỗ Quang Huy “Nhân nuôi động vật hoang dã, quản lý động vật rừng”. Giới thiệu một số nét cơ bản trong kỹ thuật chăn nuôi Cầy hương, Cầy vòi mốc, Cầy mực, Cầy vằn Bắc như: Cách kiến tạo chuồng nuôi, chọn giống, thức ăn, chăm sóc, ghép đôi và chăm sóc Cầy con mới sinh. Kỹ thuật chăn nuôi một số động vật quý hiếm của Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm Sỹ Tiệp (2000),“Hỏi đáp về tập tính động vật” của Vũ Quang Mạnh, Trịnh Nguyên Giao (2004)… 1. Tình hình chăn nuôi động vật hoang dã tại Ninh Bình Ninh Bình nằm ở của ngõ cực nam miền bắc thuộc đồng bằng sông hồng, là địa phương có diện tích tự nhiên chủ yếu là đồi núi bán sơn địa, có nguồn lao động khá dồi dào và truyền thống làm nông nghiệp chăn nuôi lâu đời, Các hoạt động kinh tế phát triển đa dạng, từ các hoạt động truyền thống về nông, lâm, ngư nghiệp đến các hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch vụ, đặc biệt phát triển mạnh về du lịch, du lịch sinh thái (Bãi đính, tràng an, tam cốc bích động.
Sự phát triển này đã đem lại những thu nhập cao cho 6 nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều giữa các thành thị và nông thôn. Các huyện vùng nông thôn, người dân chủ yếu vẫn sinh sống dựa trên các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, thunhập thấp, không ổn định. Do đó, để phát triển kinh tế tại các địa phương này cần tìm ra một nghề mới, phù hợp với điều kiện của địa phương, đặc biệt tận dụng được ưu thế về nguồn lao động khá dồi dào,có truyền thống nông nghiệp lâu đời,người dân có tính cần cù chịu khó.
Nghề chăn nuôi động vật hoang dã tại đây hình thành và phát triển, mở ra một hướng sản xuất mới có tiềm năng đem lại hiệu quả kinh tế, thu nhập cao và ổn định cho người dân. Trong một vài năm trở lại đây nghề chăn nuôi động vật hoang dã đang từng bước có sự phát triển mạnh mẽ. Cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, các đối tượng động vật hoang dã được đưa vào chăn nuôi ban đầu là các loại phổ biến, đã được nuôi nhiều ở các địa phương khác như Hươu sao, Rắn, Lợn rừng, Rắn các loại, Nhím, Cầy vòi hương. Đến thời gian gần đây, nhiều đối tượng vật nuôi khác được đưa vào thử nghiệm tại nhiều hộ gia đình của nhiều địa bàn khác nhau, nhiều loài trong số này đã trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu.
Nhiều hộ gia đình và cơ sở nhân nuôi phát triển, mở rộng quy mô thu hút nhiều lao động tại địa phương và trở thành những cơ sở tham quan, học hỏi của nhiều người khác. Điều đó đã tạo nên một phong trào nhân nuôi động vật hoang dã tại nhiều địa phương, góp phần không nhỏ cho việc chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, tăng thu nhập, tăng tiềm lực phát triển kinh tế cho địa phương. Bên cạnh những bước phát triển và hiệu quả bước đầu của nghề chăn nuôi động vật hoang dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thì còn tồn tại không ít vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động chăn nuôi này trong tương lai, trong đó những vấn đề chính có thể kể đến: - Các đối tượng vật nuôi được đưa vào nhân nuôi phần lớn do tính tự 7 phát tự tìm hiểu của người dân. Việc phát triển đối tượng nuôi một cách tràn lan, thiếu quy hoạch.
Nhiều loài có giá trị cao khi mới đưa vào nhân nuôi nhưng giá trị kinh tế lại rất biến động khiến nhiều hộ bị thua lỗ, nhiều loài không phù hợp điều kiện tại địa phương. Việc quy hoạch hoạt động nhân nuôi cũng chưa được địa phương thực sự quan tâm do thiếu các thông tin điều tra, đánh giá và thiếu những định hướng cho sự phát triển rõ ràng. - Hiệu quả nhân nuôi còn thấp do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó thiếu hướng dẫn kỹ thuật và thị trường tiêu thụ không ổn định là các nguyên nhân chủ yếu. Hầu hết các hộ gia đình và cơ sở nhân nuôi tự học tập, tích lũy kinh nghiệm nhân nuôi mà chưa được tham gia các lớp bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ thuật một cách đầy đủ.
Nhiều loài được nhân nuôi chủ yếu phục vụ trong nước, thiếu ổn định dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, nhiều cơ sở bị thua lỗ và bỏ nghề. Nếu không sớm có những giải pháp và định hướng kịp thời của các cơ quan quản lý, cơ quan chức năng thì sẽ rất khó khăn cho sự phát triển bền vững của hoạt động này. - Hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã chưa phát triển đồng đều ở các địa phương trong tỉnh, măc dù nhiều địa phương có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hoạt động này, đặc biệt là về nguồn nhân lực, lao động và điều kiện đất đai, địa hình. Điều này một mặt tạo nên sự mất cân đối trong nghề chăn nuôi động vật hoang dã, mặt khác không phát huy được các thế mạnh của các địa phương miền núi,ven biển.
Hệ thống các văn bản chính sách liên quan đến phát triển động vật hoang dã Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (2003) nhấn mạnh: “Kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao; loại bỏ các phương thức khai thác huỷ diệt, đặc biệt trong khai thác thuỷ sản; đẩy mạnh các biện pháp bảo tồn nội vi 8 kết hợp với bảo tồn ngoại vi”.