Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU Co1-xZnxFe2O4. CẤU TRÚC TINH THỂ. Cấu trúc của vật liệu ferit spinel. Ferit spinel là thuật ngữ dùng để chỉ loại vật liệu có cấu trúc hai phân mạng là tứ diện (A) và bát diện (B) mà các tương tác giữa chúng là phản sắt từ hoặc ferit từ [36].
Một đơn vị ô cơ sở của ferit spinel (với hằng số mạng tinh thể a 8,4 A0 ) được hình thành bởi 32 nguyên tử O2- và 24 cation Fe2+, Zn2+, Co2+, Mn2+, Ni2+, Mg2+, Fe3+ và Gd3+. Trong một ô cơ sở có 96 vị trí cho các cation. Nhóm tứ diện (A) có 32 vị trí cho các cation nhưng chỉ có 8 ion kim loại chiếm chỗ, mỗi ion kim loại ở nhóm này được bao bởi 4 ion oxi. Nhóm bát diện (B) có 64 vị trí cho các cation nhưng chỉ có 16 ion kim loại chiếm chỗ, mỗi ion kim loại ở nhóm này được bao bởi 6 ion oxi.
Cấu trúc ferit spinel thường có dạng MFe2O4. Ở đây M là các kim loại hóa trị 2+ như: Fe2+, Mn2+, Zn2+, Co2+, Ni2+, Mg2+. Cấu trúc ferit spinel được mô tả bởi khối lập phương bao gồm cả các ion oxy (Hình 1. Với bán kính ion của ôxy là 0,132 nm lớn hơn rất nhiều so với bán kính ion của các kim loại trong cấu trúc (0,06 ÷ 0,091nm) (Bảng 1.
Cấu trúc tinh thể của vật liệu ferit spinel [7]. Thông số bán kính của một số ion kim loại [38]. Thông thường, các ferit này được viết dưới dạng: M2+[Fe23+]O42-. Ví dụ ZnFe2O4 và CdFe2O4.
- Spinel đảo: tất cả các ion M2+ nằm ở vị trí bát diện (B), các ion Fe3+ phân chia đều ở hai vị trí A và B. Các ferit này được viết dưới dạng: Fe3+[ M2+Fe3+]O42-. Ví dụ NiFe2O4 và CoFe2O4. - Spinel hỗn hợp: các cation M2+ và Fe3+ có thể đồng thời phân bố ở hai vị trí A và B.
Kiểu cấu trúc này được mô tả qua biểu thức sau: My2+Fe1-y3+[M1-y2+Fe1+y3+]O42-, với 0 ≤ y ≤ 1, y là số lượng ion Fe3+ một nửa chiếm vị trí tứ diện (A) , một nửa chiếm ở vị trí bát diện (B), được đặc trưng bởi độ đảo của ferit [8] (Bảng 1. Phân bố ion trong các vị trí của cấu trúc spinel [5]. Kiểu cấu trúc Vị trí Số vị trí có sẵn Số được sử dụng Spinel thuận Spinel đảo (A) 64 8 8M2+ 8 Fe3+ (B) 32 16 16 Fe3+ 8 M2+, 8Fe3+ Vật liệu nano CoFe2O4 có cấu trúc spinel đảo. Tất cả các ion Co2+ đều chiếm ở vị trí bát diện (B), một nửa Fe3+ chiếm ở vị trí tứ diện (A), một nửa ion Fe3+ chiếm ở vị trí bát diện (B) nên vật liệu nano CoFe2O4 có cấu trúc (Fe3+)[Co2+ Fe3+ ]O42-.
Cấu trúc của vật liệu nano Co1-xZnxFe2O4. Vật liệu nano Co1-xZnxFe2O4 có cấu trúc spinel hỗn hợp. Tất cả các ion Co2+ đều chiếm ở vị trí bát diện (B), các ion Zn2+ đều chiếm ở vị trí tứ diện (A). Ion Fe3+ có thể chiếm hoàn toàn ở vị trí tứ diện (A), có thể chiếm hoàn toàn ở vị trí bát diện (B) hoặc một nửa ion Fe3+ chiếm ở vị trí tứ diện (A) một nửa chiếm ở vị trí bát diện (B) nên vật liệu nano Co1-xZnxFe2O4 có cấu trúc (Co2+1-x Fe3+x)[Zn2+xFe3+2-x ]O42-.
Ion Zn2+ là ion không có từ tính (mômen từ bằng không) thường được phân bố ở các vị trí tứ diện. Trong khi đó Co2+ và Fe3+ là các ion có từ tính với mômen từ lần lượt là 3B và 5B, các ion (Co2+) chiếm ở vị trí bát diện hoặc cả hai vị trí giống như (Fe3+). Khi nồng độ Zn tăng, ion Zn2+ thay thế cho Co2+ tăng lên, làm giảm tương tác trao đổi ở vị trí tứ diện, dẫn đến từ độ của hạt giảm. Với mong muốn chế tạo được vật liệu có Tc thấp hơn vật liệu khối, nhằm đáp ứng yêu cầu trong nhiệt từ trị nên tiến hành pha kẽm với nồng độ khác nhau để khảo sát.
Coban ferit CoFe2O4 và Co1-xZnxFe2O4 là một vật liệu từ quan trọng, với các ứng dụng rộng rãi bao gồm: các linh kiện điện tử, chất lỏng từ, thiết bị vi sóng, ghi từ mật độ cao.dựa vào độ từ hóa, độ cảm từ cao và tính dị hướng cao [33-35]. TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA FERIT SPINEL. Dị hướng từ tinh thể. Năng lượng dị hướng từ tinh thể là năng lượng có được do liên kết giữa mômen từ spin và mômen từ quỹ đạo (liên kết spin - quỹ đạo) và do sự liên kết của điện tử với sự sắp xếp của các nguyên tử trong mạng tinh thể (tương tác với trường tinh thể).
Dị hướng từ tinh thể là năng lượng liên quan đến tính đối xứng tinh thể. Năng lượng dị hướng từ tinh thể thường được biểu diễn bởi hàm cơ bản liên quan tới góc giữa véctơ từ độ và trục dễ từ hóa. Nếu tinh thể có 1 trục dễ từ hóa duy nhất (gọi là dị hướng đơn trục) thì năng lượng dị hướng từ tinh thể được tính theo công thức [1.1) i 1 14 Với là góc giữa từ trường với trục dễ từ hóa, Ki là các hằng số dị hướng từ tinh thể mang đặc trưng của từng loại vật liệu khác nhau. Với tinh thể có đối xứng lập phương thì năng lượng dị hướng từ phụ thuộc vào côsin chỉ phương của véc tơ từ độ và các trục tinh thể theo công thức [1.2) Với K1,K2 … là các hằng số dị hướng tinh thể, αi là các côsin chỉ phương giữa véctơ từ độ và các trục tinh thể.
Dị hướng từ bề mặt. Người ta biết rất rõ rằng, tỉ số các nguyên tử trên bề mặt hạt so với bên trong hạt sẽ tăng lên khi kích thước hạt giảm. Từ đó, năng lương bè mặt sẽ có đóng góp tăng thêm vào năng lượng dị hướng tổng cộng (cùng với năng lượng từ tinh thể và năng K< 0 K> 0 lượng từ tĩnh). Dị hướng bề mặt sinh ra bởi Hình 1.
Sự sắp xếp spin bề tính bất trật tự của các nguyên tử ở biên hạt, gây ra bởi các sai hỏng mạng tinh mặt của các hạt sắt từ trong thể…. Hệ quả là, tính đối xứng ở biên hạt hai trường hợp dị hướng bề bị phá vỡ vì tính bất trật tự nguyên tử và mặt khác nhau K < 0 và K > 0 các sai hỏng sinh từ đó gây ra dị hướng bề [12].2 biểu diễn sự sắp xếp spin bề mặt của các hạt sắt từ trong hai trường hợp dị hướng bề mặt khác nhau (K < 0 tương ứng với trường hợp trục dễ và K > 0 tương ứng với trường hợp mặt phẳng dễ). Năng lượng từ hóa bão hòa của hệ hạt nano siêu thuận từ thường cao vì dị hướng bề mặt làm cho lớp bề mặt khó từ hóa hơn so với lớp lõi của hạt. Năng lượng dị hướng hiệu dụng cho mỗi đơn vị thể tích ký hiệu là Keff.
Nếu đơn giản hóa coi dị hướng chỉ bao gồm các đóng góp của dị hướng khối Kv và bề mặt Ks thì cho một hạt hình cầu, công thức để tính toán Keff sẽ là: 6 Keff Kv Ks (1. 15 Như vậy, tính chất từ của một vật liệu có thể xem là sự hưởng ứng của mô men từ ở mức nguyên tử với từ trường ngoài. Đối với vật liệu ferit spinel, tính chất từ có nguồn gốc từ 3 loại tương tác trao đổi gián tiếp giữa các ion kim loại (M) trong hai phân mạng A và B thông qua các ion ôxy là AA, BB và AB. Năng lượng tương tác trao đổi này phụ thuộc vào khoảng cách giữa các ion và góc ϕ giữa chúng với ion ôxy như hình 1.4 cho biết cụ thể hơn về góc liên kết có thể đóng góp vào năng lượng tương tác trao đổi trong cấu trúc tinh thể spinel.
Trong cấu hình AB, khoảng cách p, q là nhỏ, trong khi đó góc ϕ khá lớn (ϕ ≈ 1250), do vậy năng lượng Hình 1. Góc Φ giữa các ion MI và MII với tương tác trao đổi trong ion oxy [10]. trường hợp này là lớn nhất. Tương tác trao đổi yếu nhất ở cấu hình AA, vì khoảng cách r tương đối lớn (r = 3,3 Å), với góc ϕ ≈ 800.
Độ lớn của tương tác trao đổi cũng bị ảnh hưởng bởi sự sai lệch của tham số ôxy khỏi giá trị 3/8. Tham số ôxy là một đại lượng để xác định độ dịch chuyển của các ion ôxy khỏi vị trí của mạng tinh thể lý tưởng. Nếu u > 3/8 thì ion O2- phải thay đổi sao cho trong liên kết AB khoảng cách A – O tăng lên, khoảng cách B – O giảm đi. Từ đây cho thấy tương tác AB là lớn nhất.
Các cấu hình phân bố ion trong mạng spinel, phân mạng A và B là các ion kim loại ở vị trí tứ diện và bát diện, vòng tròn lớn là ion ôxy [11 ]. ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH THƯỚC HẠT ĐẾN TRẠNG THÁI VÀ TÍNH CHẤT TỪ. Trong vật liệu sắt từ, đômen được xem là vùng có các mômen từ định hướng hoàn toàn song song với nhau và được ngăn cách bởi các vách ngăn. Khái niệm đômen từ được đề xuất lần đầu tiên bởi Weiss [50].
Việc hình thành các đômen từ được giải thích theo nguyên lý cực tiểu năng lượng của một hệ ở trạng thái bền. Đó là sự cân bằng của các dạng năng lượng ( năng lượng tĩnh từ, năng lượng trao đổi, năng lượng dị hướng và năng lượng của vách đômen) sẽ quyết định đến hình dạng và cấu trúc của đômen. Kích thước hay độ rộng vách của đômen sẽ thay đổi khi kích thước của vật liệu giảm. Các hạt trở thành đơn đômen khi kích thước giảm đến một giới hạn nào đó.
Khi đó sự hình thành vách đômen sẽ không thuận lợi về mặt năng lượng. Kích thước đơn đômen của các loại vật liệu là khác nhau. Với các hạt hình cầu, tồn tại trạng thái có năng lượng từ tính cân bằng với năng lượng vách đômen (EM=EW), khi đó hạt nano từ trở thành đơn đômen với đường kính tới hạn được tính theo công thức sau [2, 13]: 1 ( A K )2 Dc 18 1 2 (1.4) 0 M s Trong đó A1 độ lớn tương tác trao đổi, Ms là từ độ bão hòa, 0 là độ từ thẩm của môi trường và K là hằng số dị hướng từ tinh thể. Giá trị kích thước đơn đômen và hằng số dị hướng tinh thể của một số vật liệu từ điển hình thể hiện ở bảng 1.
Kích thước đơn đômen và hằng số dị hướng từ tinh thể của một số vật liệu từ điển hình [13, 44].