Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chế tạo cấu trúc lai ferit từ kim loại nano và ứng dụng trong y sinh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo cấu trúc lai ferit từ kim loại Ag, Au kích thước nano, ứng dụng trong y sinh và tính chất của chúng.

Chuyên ngành

Hóa vô cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

153
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ VẬT LIỆU NANO FERIT TỪ - KIM LOẠI QUÝ

1.1. Giới thiệu chung về vật liệu nano ferit từ - kim loại quý

1.2. Tính chất từ của vật liệu ferit từ

1.3. Tính chất quang của vật liệu kim loại quý (Ag, Au)

1.4. Hệ vật liệu lai ferit từ - kim loại quý

1.5. Tính chất vật liệu nano lai ferit từ - kim loại quý

1.5.1. Tính chất từ

1.5.2. Tính chất quang

1.5.3. Tính tương thích sinh học và ổn định hóa lý

1.6. Ứng dụng của vật liệu nano lai ferit từ - kim loại quý trong y sinh

1.6.1. Ứng dụng nhiệt trị trong điều trị ung thư

1.6.2. Chẩn đoán hình ảnh

1.6.3. Ứng dụng kháng khuẩn

1.6.4. Dẫn thuốc hướng đích

1.7. Phƣơng pháp tổng hợp vật liệu nano lai ferit từ - kim loại quý

1.7.1. Tổng hợp vật liệu nano ferit từ

1.7.2. Tổng hợp vật liệu nano lai ferit từ - kim loại quý

1.7.3. Biến tính bề mặt vật liệu nano lai

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu và hóa chất

2.2. Tổng hợp vật liệu

2.2.1. Tổng hợp hạt nano ferit từ

2.2.2. Tổng hợp các hệ nano lai ferit từ - kim loại (Ag, Au)

2.2.3. Chuyển pha hạt nano sang môi trường nước

2.2.4. Các phƣơng pháp đặc trƣng vật liệu

2.2.4.1. Kính hiển vi điện tử truyền qua
2.2.4.2. Nhiễu xạ tia X
2.2.4.3. Từ kế mẫu rung
2.2.4.4. Phổ hấp thụ phân tử UV-Vis
2.2.4.5. Phổ hấp thụ hồng ngoại
2.2.4.6. Phổ tán sắc năng lượng tia X
2.2.4.7. Phân tích nhiệt khối lượng
2.2.4.8. Phương pháp tán xạ ánh sáng động
2.2.4.9. Phƣơng pháp đánh giá độc tính của vật liệu
2.2.4.10. Phƣơng pháp đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của vật liệu
2.2.4.11. Phƣơng pháp xác định hiệu ứng quang/từ - nhiệt
2.2.4.12. Phƣơng pháp chụp ảnh cộng hƣởng từ hạt nhân

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hạt nano ferit từ

3.1.1. Hình thái học

3.1.2. Cấu trúc pha tinh thể

3.1.3. Tính chất từ

3.1.4. Cấu trúc lớp vỏ bọc hạt nano ferit

3.2. Hạt nano lai Fe3O4-(Ag, Au)

3.2.1. Hình thái học

3.2.2. Cấu trúc pha tinh thể

3.2.3. Tính chất quang

3.2.4. Tính chất từ

3.2.5. Thành phần hóa học

3.3. Hạt nano bọc PMAO

3.3.1. Quá trình chuyển pha hạt nano bằng PMAO

3.3.2. Tính chất quang của vật liệu

3.3.3. Cấu trúc lớp vỏ bọc của vật liệu

3.3.4. Độ bền của vật liệu

3.3.5. Đánh giá độc tính của vật liệu

3.4. Khả năng ứng dụng của vật liệu Fe3O4-(Ag, Au) trong y sinh

3.4.1. Hoạt tính kháng khuẩn của vật liệu

3.4.2. Hiệu ứng chuyển đổi quang/từ - nhiệt của vật liệu

3.4.3. Đánh giá độ hồi phục r1, r2 của vật liệu

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về vật liệu nano ferit từ kim loại quý

Vật liệu nano ferit từ - kim loại quý là một trong những loại vật liệu có tiềm năng lớn trong ứng dụng y sinh. Cấu trúc ferit kết hợp với kim loại nano như Ag và Au tạo ra những đặc tính độc đáo, giúp cải thiện hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc kết hợp giữa tính chất từ và quang của các hạt nano này có thể tạo ra những ứng dụng mới trong y học. Đặc biệt, tính chất ferit cho phép các hạt này tương tác với từ trường, trong khi tính chất quang của kim loại quý giúp tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng trong vùng hồng ngoại gần, mở ra cơ hội cho các phương pháp điều trị mới như tăng thân nhiệt dưới tác dụng của từ trường. Theo đó, việc nghiên cứu và phát triển các hệ vật liệu này không chỉ mang lại lợi ích cho lĩnh vực y sinh mà còn góp phần vào sự phát triển của công nghệ nano.

II. Tính chất từ và quang của vật liệu nano ferit từ kim loại quý

Tính chất từ của vật liệu ferit là một yếu tố quan trọng trong việc ứng dụng trong y sinh. Các hạt nano ferit từ có khả năng tạo ra từ trường mạnh, giúp tăng cường hiệu quả trong các phương pháp điều trị như tăng thân nhiệt. Bên cạnh đó, tính chất quang của kim loại quý như Ag và Au cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ ánh sáng và chuyển đổi năng lượng. Sự kết hợp giữa hai tính chất này tạo ra những hạt nano lai với khả năng hấp thụ ánh sáng trong vùng hồng ngoại gần, giúp tăng cường hiệu quả điều trị ung thư. Nghiên cứu cho thấy rằng, các hạt nano này có thể được sử dụng trong chẩn đoán hình ảnhdẫn thuốc hướng đích, mở ra nhiều cơ hội mới trong việc phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả hơn.

III. Ứng dụng của vật liệu nano lai ferit từ kim loại quý trong y sinh

Vật liệu nano lai ferit từ - kim loại quý đã cho thấy nhiều ứng dụng tiềm năng trong y sinh. Một trong những ứng dụng nổi bật là trong chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là trong chụp cộng hưởng từ (MRI). Các hạt nano này có thể cải thiện độ tương phản hình ảnh, giúp bác sĩ dễ dàng phát hiện các bệnh lý. Ngoài ra, chúng còn được sử dụng trong điều trị ung thư thông qua phương pháp tăng thân nhiệt, nơi mà các hạt nano hấp thụ ánh sáng và tạo ra nhiệt để tiêu diệt tế bào ung thư. Hơn nữa, khả năng kháng khuẩn của các hạt nano này cũng được nghiên cứu, cho thấy tiềm năng trong việc phát triển các vật liệu y sinh an toàn và hiệu quả. Những ứng dụng này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu tác dụng phụ cho bệnh nhân.

IV. Phương pháp tổng hợp vật liệu nano lai ferit từ kim loại quý

Phương pháp tổng hợp vật liệu nano lai ferit từ - kim loại quý là một yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng và tính năng của sản phẩm cuối cùng. Các phương pháp như tổng hợp hóa họcbiến tính bề mặt được sử dụng để tạo ra các hạt nano với kích thước và hình dạng mong muốn. Việc kiểm soát kích thước hạt và cấu trúc bề mặt là rất cần thiết để đảm bảo tính tương thích sinh học và hiệu quả trong ứng dụng y sinh. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc tối ưu hóa các điều kiện tổng hợp có thể dẫn đến sự cải thiện đáng kể về tính chất vật liệu và khả năng ứng dụng trong y sinh. Các phương pháp này không chỉ giúp tạo ra các hạt nano với tính chất mong muốn mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các vật liệu nano đa chức năng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về hệ vật liệu nano ferit từ - kim loại quý Chương 2. Thực nghiệm và các phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả và thảo luận 3.

Hạt nano ferit từ 3. Hạt nano lai Fe3O4-(Ag, Au) 3. Hạt nano bọc PMAO 3. Khả năng ứng dụng của vật liệu Fe3O4-(Ag, Au) trong y sinh Kết luận 3 luan an CHƢƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ HỆ VẬT LIỆU NANO FERIT TỪ - KIM LOẠI QUÝ 1. Giới thiệu chung về vật liệu nano ferit từ - kim loại quý 1. Tính chất từ của vật liệu ferit từ Tính chất từ của các vật liệu khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc điện tử của chúng. Các mômen từ của nguyên tử được tạo ra bởi mômen từ của các điện tử liên quan đến chuyển động nội tại của điện tử (chuyển động spin) và mômen từ quỹ đạo do chuyển động của điện tử quanh hạt nhân nguyên tử gây ra.

Trong tự nhiên, tất cả các vật liệu đều bị từ hóa ở một mức độ nào đó. Tính chất từ của vật liệu được xác định bởi cấu trúc điện tử của nguyên tử tạo nên vật liệu đó. Ta có thể phân loại các vật liệu từ theo độ cảm từ () hay hệ số từ hóa. Độ cảm từ có thể có giá trị từ 10-5 đối với vật liệu từ rất yếu (nghịch từ) đến 10+6 đối với vật liệu từ rất mạnh (sắt từ) [19]: Hình 1.

Sơ đồ minh họa sự sắp xếp các mômen từ của các vật liệu khác nhau khi không có và có từ trường bên ngoài (H) [20]. 4 luan an Vật liệu nghịch từ: là vật liệu được hình thành từ các nguyên tử không có mômen từ spin hoặc mômen từ quỹ đạo. Khi đặt vật liệu nghịch từ trong từ trường ngoài thì các mômen từ sinh ra trong vật liệu định hướng ngược với hướng của từ trường ngoài và có giá trị rất nhỏ (hình 1. Độ cảm từ của vật liệu có giá trị âm và có độ lớn khoảng 10-6 ÷ 10-5 (cgs g-1).

Nguồn gốc của tính nghịch từ là chuyển động quỹ đạo của điện tử quanh hạt nhân do tác dụng của cảm ứng điện từ bởi từ trường ngoài. Tất cả các vật liệu có lớp vỏ điện tử được lấp đầy là các vật liệu nghịch từ. Vật liệu thuận từ: là vật liệu được tạo thành từ các nguyên tử có một phần lớp vỏ điện tử được lấp đầy. Khi không có từ trường ngoài, trong vật liệu có mômen từ nguyên tử, tuy nhiên chúng sắp xếp hỗn loạn do chuyển động nhiệt nên mômen từ của toàn bộ vật liệu bằng không.

Khi có từ trường ngoài đặt vào mẫu, các monmet từ của mẫu sắp xếp theo hướng của từ trường ngoài (hình 1. Vật liệu thuận từ có độ cảm từ dương 10-5 ÷ 10-3 (cgs g-1). Vật liệu sắt từ: là vật liệu mà mômen nguyên tử sắp xếp song song do năng lượng tương tác giữa các spin là dương và có giá trị lớn, vì vậy tạo ra từ tính tự phát rất lớn ngay cả khi không có từ trường ngoài (hình 1. Các vật liệu sắt từ thông thường nhất là các kim loại chuyển tiếp dãy 3d như Co, Fe, Ni và các hợp kim của chúng.

Vật liệu phản sắt từ: cũng giống vật liệu sắt từ ở chỗ nó tạo thành từ các nguyên tử có mômen từ với độ lớn bằng nhau. Tuy nhiên, các mômen từ này định hướng ngược nhau (đối song) nên từ hóa tổng thể của vật liệu phản sắt từ gần bằng 0 khi không có mặt từ trường (hình1. Các loại vật liệu phản sắt từ điển hình là: CoO, NiO, FeO. Vật liệu ferit từ: là vật liệu có các mômen từ không có độ mạnh như nhau và chúng sắp xếp đối song (hình 1.

Vật liệu ferit từ có từ tính tự phát, nhưng thấp hơn trong vật liệu sắt từ. Các oxit của kim loại chuyển tiếp như Fe3O4 hoặc ferit như CoFe2O4 là ví dụ điển hình cho vật liệu ferit từ. Để giảm tối đa năng lượng khử từ, các vật liệu từ như sắt từ hoặc ferit từ có xu hướng chia nhỏ thành các đômen. Kích thước của đômen từ vài chục đến vài trăm nanomet và được xác định bởi hằng số dị hướng và tính chất từ của mỗi vật liệu.

Trong một đômen, các mômen từ có xu hướng định hướng theo một hướng 5 luan an nhất định gọi là hướng dễ từ hóa. Khi kích thước của hạt giảm xuống thấp hơn kích thước của một đômen, hạt nano từ là các đơn đômen và trở thành vật liệu siêu thuận từ ở nhiệt độ phòng. Vật liệu siêu thuận từ cũng tương tự như vật liệu thuận từ, tức là khi không có từ trường ngoài, mômen từ tổng thể của vật liệu sẽ bằng không. Khi đặt chúng trong từ trường ngoài mômen từ của các nguyên tử sẽ định hướng theo hướng từ trường ngoài, tổng mômen từ của các hạt giống như một mômen từ “khổng lồ” duy nhất [21].

Tuy nhiên khác với vật liệu thuận từ, giá trị từ hóa của vật liệu siêu thuận từ lớn hơn rất nhiều. Tính chất quang của vật liệu kim loại quý (Ag, Au) * Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt: Các kim loại quý (Ag, Au) có mật độ điện tử tự do lớn nên khi được kích thích bởi điện trường của ánh sáng tới thì chúng dao động. Thông thường các dao động này bị dập tắt nhanh bởi các sai hỏng mạng hay bởi chính các nút mạng tinh thể trong kim loại khi quãng đường tự do trung bình của điện tử nhỏ hơn kích thước vật liệu. Nhưng khi kích thước của kim loại nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình thì hiện tượng dập tắt không còn nữa mà dao động sẽ lan truyền trên bề mặt kim loại và điện tử sẽ dao động cộng hưởng với ánh sáng kích thích nếu tần số của sóng ánh sáng tới trùng với tần số dao động riêng của hệ điện tử.

Do vậy, sự dao động tập thể của các điện tử dẫn khi tương tác với sóng ánh sáng đã tạo ra một hiệu ứng quang đặc biệt trong các cấu trúc nano kim loại quý. Hiện tượng tất cả các điện tử dẫn trên bề mặt kim loại được kích thích đồng thời tạo thành một dao động đồng pha được gọi là hiện tượng “cộng hưởng plasmon bề mặt” [22]. Dao động của các điện tử này xung quanh bề mặt hạt gây ra sự phân tách điện tích, tạo thành dao động lưỡng cực dọc theo hướng điện trường của ánh sáng (hình 1. Cộng hưởng plasmon bề mặt gây ra sự hấp thụ mạnh ánh sáng tới và có thể đo được bằng máy quang phổ hấp thụ UV - Vis.

Sơ đồ minh họa hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt của các hạt nano kim loại quý (LSP: plasmon bề mặt cục bộ) [23]. 6 luan an * Lý thuyết Mie: Để giải thích tính chất quang của các hạt nano kim loại quý, Mie đã giải bài toán tán xạ của sóng điện từ trên một hạt cầu kim loại với giả thiết các hạt và môi trường xung quanh nó là đồng nhất. Phương trình được mô tả bằng các hàm điện môi quang học trong tọa độ cầu với điều kiện biên thích hợp. Điều kiện biên được xác định bởi tính gián đoạn rõ nét của mật độ điện tử tại bề mặt của hạt bán kính R.

Kích thước hạt, các hàm quang học của hạt và hàm điện môi của môi trường xung quanh được sử dụng như là các thông số đầu vào [24]. Khi đường kính của hạt cầu nhỏ hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng (d << ), điện trường của ánh sáng có thể được coi là không đổi và tương tác bị chi phối bởi trường tĩnh điện hơn là điện động lực học. Khi đó, plasmon của một hạt nano kim loại được xem là một dao động lưỡng cực có tần số plasmon phụ thuộc vào hằng số điện môi của chúng. Do hằng số điện môi  của hạt kim loại và m của môi trường xung quanh phụ thuộc vào bước sóng, nên trong trường hợp này người ta gọi là gần đúng giả tĩnh (quasi-static).

Trong chế độ giả tĩnh, các dịch chuyển pha hay các hiệu ứng trễ của trường điện động là không đáng kể, trường điện từ trong hạt là đồng nhất. Nếu d >> , trường điện từ trong hạt là không đồng nhất, sẽ có sự dịch pha dẫn tới kích thích dao động đa cực. Lý thuyết Mie đã tìm ra tiết diện dập tắt (ext), bao gồm tiết diện hấp thụ (abs) và tiết diện tán xạ (sct) của hạt như sau: 2  σext =  (2j + 1) Re(a j + b j )  x 2 j=1 (1.1) abs = ext - sca (1.4) ω Trong đó: R là bán kính hạt,  là tần số góc của ánh sáng tới trong chân không, aj và bj là các hệ số tán xạ, nm là chiết suất thực của môi trường xung quanh. Trong các biểu thức này, j là chỉ số tổng hợp của các sóng từng phần: j = 1 tương ứng với dao động lưỡng cực, j = 2 tương ứng với dao động tứ cực.

7 luan an Khi kích thước hạt nhỏ hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng (d << ), thì dao động của điện tử được xem là dao động lưỡng cực và tiết diện dập tắt được viết dưới dạng đơn giản: ω 3/2 ε2  ω σext = 9 εm V (1.5) ε1 (ω) + 2ε m  + ε 2  ω  2 2 c Trong đó V = (4/3)R3 là thể tích hạt cầu, c là vận tốc ánh sáng,  là tần số góc của ánh sáng kích thích, m là hằng số điện môi của môi trường quanh hạt và () = 1() + i1() là hàm điện môi của hạt. Ở đây () được coi là không phụ thuộc vào tần số của ánh sáng tới, còn () là một hàm phức của năng lượng. Hiện tượng cộng hưởng plasmon xảy ra khi 1() = -2m nếu 2 là nhỏ và phụ thuộc yếu vào . Điều này có nghĩa là tiết diện dập tắt của hạt lớn nhất khi ánh sáng truyền toàn bộ năng lượng của nó cho hạt để kích thích plasmon.

Có thể chia sự đóng góp vào hằng số điện môi thành hai phần: một là từ sự chuyển tiếp liên vùng inter() và hai là sự chuyển tiếp trong vùng intra() bao gồm hiệu ứng bề mặt: 1() = 1inter() + 1intra() (1.7) Trong đó intra() có thể được tính toán theo mô hình Drude cho điện tử gần tự do: ε1intra  ω = 1 - ω2 +p Γ2 ω2 (1.9) Với p là tần số plasmon khối,  là hệ số suy hao liên quan đến độ rộng phổ cộng hưởng plasmon. Từ lý thuyết Mie người ta có thể tính được tiết diện hấp thụ (abs) và tiết diện tán xạ (sct) của một hạt như sau: 2 512π 4 6 ε - ε m σsca = kR (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu chế tạo cấu trúc lai ferit từ kim loại nano và ứng dụng trong y sinh" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Linh, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Trọng Lư và PGS. Ngô Đại Quang, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ vào năm 2020. Bài nghiên cứu tập trung vào việc phát triển các cấu trúc lai ferit từ kim loại nano, với mục tiêu ứng dụng trong lĩnh vực y sinh. Những kết quả từ nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc chế tạo vật liệu y sinh mà còn có thể cải thiện hiệu quả trong các phương pháp điều trị hiện tại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng trong y sinh và vật liệu nano, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu gen tp53 và mdm2 trong ung thư tế bào gan nguyên phát", nơi nghiên cứu về các yếu tố di truyền trong ung thư, hay "Nghiên cứu cải thiện khả năng mang thuốc chống ung thư cisplatin của nano dendrimer", một nghiên cứu khác về ứng dụng của vật liệu nano trong điều trị ung thư. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc ứng dụng công nghệ nano trong y sinh, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về lĩnh vực này.