MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng như: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Trong số tác giả ở giai đoạn này, người viết đặc biệt quan tâm đến vị tú tài Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương. Vì ông là một nhà thơ đã phản ánh cả một xã hội với đủ mọi hàng người và sự suy đồi về đạo đức luân lí trong thời buổi giao thời.
Thơ Trần Tế Xương cũng hàm chứa những tình cảm vô cùng sâu sắc, những mối ưu tư với số phận của đất nước. Trên con đường phát triển của thi ca Việt Nam, thơ của Trần Tế Xương có giá trị đóng góp về cả nội dung và hình thức. Bậc “thần thơ thánh chữ” này xứng đáng là nhà tiên phong, tiêu biểu nhất trong việc viết về người thực, việc thực. Trong thơ Trần Tế Xương có hình bóng của con người, cảnh sinh hoạt trong xã hội cũ đã “thực dân hóa” và có hình bóng những nhân vật mới, sinh hoạt mới do xã hội thực dân đem lại.
Đó là xã hội mà bọn thực dân với chính sách thống trị buổi đầu của chúng, bọn phong kiến sa đọa thối nát làm tay sai cho giặc, đồng tiền với sức mạnh ma quái của nó, sự suy tàn và sụp đổ của nền Hán học, kèm theo chế độ thi chữ Hán. Trước cuộc đổi thay của các trật tự trong xã hội, cảnh suy vi của đạo lí con người… Trần Tế Xương không chỉ đơn giản tái hiện lại bức tranh xã hội con người cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, mà còn bộc lộ thái độ, suy nghĩ, tình cảm của mình về xã hội đó một cách thẳng thắn, trực diện. Đọc thơ Trần Tế Xương, người đọc có thể cười, khóc, thở than theo nhịp vui buồn của bài thơ. Bởi lẽ, những điều ông gửi vào thơ là những lời tâm sự của ông và nỗi lòng u hoài của một nhà nho cuối mùa.
Ngoài việc sử dụng tài tình, độc đáo ngôn từ đầy màu sắc, âm thanh, nhịp điệu của dân tộc… thì thủ pháp nghệ thuật tu từ cũng được Trần Tế Xương khai thác triệt để, trong đó không thể không nhắc đến câu hỏi tu từ - thủ pháp nghệ thuật giúp nhà thơ bày tỏ đầy đủ tâm tư, tình cảm của mình. Qua khảo sát khoảng hơn 100 bài thơ chữ Nôm, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau của Trần Tế Xương, người viết nhận thấy tần số xuất hiện của câu hỏi tu từ khá nhiều. Với sự xuất hiện dày đặc của những câu hỏi tu từ như thế, chắc chắn nó có tác dụng không nhỏ trong việc giúp thơ ông thâm túy, sắc sảo và nhạy bén. 1 Là sinh viên ngành Ngữ Văn, tôi được học rất nhiều những tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau.
Mỗi nhà văn, mỗi nhà thơ đều có nét riêng trong sáng tác của mình. Nhưng tôi có ấn tượng nhiều đến tác phẩm thơ Trần Tế Xương. Bởi lẽ, ông là người có tài và có sở trường về thơ trào phúng với sức châm biến mạnh mẽ, sâu sắc. Tiếng cười trong thơ ông bao giờ cũng cất lên từ nền tảng trữ tình mang nội dung nhân đạo và lòng yêu nước thiết tha.
Những câu thơ của ông được tôi học thuộc lòng một cách rất tự nhiên: Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba, Vừa giấc chiêm bao chợt tỉnh ra. Thiên hạ dễ thường đang ngủ cả, Việc gì mà thức một mình ta? (Chợt giấc) Chính từ những lí do trên, người viết mạnh dạn chọn đề tài Câu hỏi tu từ trong thơ Trần Tế Xương để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Qua việc nghiên cứu này, người viết muốn bổ sung thêm kiến thức, góp phần bé nhỏ của mình vào việc đánh giá, nhận xét những giá trị của các tác phẩm thơ của Trần Tế Xương đối với văn học trung đại nói riêng và dòng văn học dân tộc nói chung. Đặc biệt là đóng góp về lĩnh vực nghệ thuật sử dụng câu hỏi tu từ trong thơ.
Lịch sử vấn đề Nền văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX có rất nhiều cây bút đặc sắc. Thời kì này đã có những tác giả nổi tiếng, trong đó có Trần Tế Xương. Tuy không phải là người thành danh, không đỗ đạt cao, không quan cao tước trọng nhưng tên tuổi của ông đã đi vào lòng độc giả qua những sáng tác của mình. Những vấn đề về tác phẩm thơ của Trần Tế Xương trong nhiều năm qua, như là “thanh nam châm” thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời và thơ Trần Tế Xương của biết bao thế hệ các nhà nghiên cứu có tâm huyết. Có thể điểm qua các công trình của các nhà nghiên cứu văn chương sau: Trong quyển Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm, với bài viết Trông dòng sông vị, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã đánh giá cao các giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Tú Xương. Và khẳng định: “Cái sự nghiệp văn chương của ông để lại cho chúng ta, cho nước Việt Nam, là một di sản quý báu vô ngần” [16; tr. 2 Trong Thơ văn Tú Xương, Đỗ Đức Hiếu cũng đã nhận định: “Sau Hồ Xuân Hương, trong thời kỳ văn học cận đại, Tú Xương là nhà thơ kế nghiệp xứng đáng nhất của văn thơ trào phúng nhân dân, cả về phương diện tư tưởng và nghệ thuật” [16; tr.
Trong mục Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương, Nguyễn Sĩ Tế đặc biệt đánh giá cao Tú Xương: “Có thể nói rằng nhà thơ non Côi sông Vị đã ghi công đầu trong nền thi ca trào phúng của nước nhà. Cho cả đến ngày nay, hệ thống trào phúng của ông hầu như chưa có ai vượt trội được. Nếu như Nguyễn Du xứng danh là một thi bá trong ngành thơ tình cảm, thì Trần Tế Xương đáng kể là một thi hào trong ngành thơ trào phúng Việt Nam” [16; tr. Bên cạnh việc đi tìm nguyên nhân bởi các yếu tố khách quan (xã hội) và yếu tố chủ quan (bản thân), nhà nghiên cứu Nguyễn Sĩ Tế còn tập trung phân tích hình thức nghệ thuật trào phúng với các sắc thái “một cái cười sâu sắc khốc liệt” và “một cái cười phong phú và linh động”, từ đó đi đến biểu dương: “Đã tàn nhẫn, tỷ mỷ, cụ thể như thế, Trần Tế Xương lại còn biết đánh trúng vào trọng tâm cái xấu.
Bao giờ ông cũng chú trọng cái hỏng bên trong của sự vật và khéo khôn liên kết cái trong với cái ngoài. Những bài thơ trào phúng của ông có phải là nói chuyện khôi hài, vui đùa chốc lát đâu. Ông công kích cốt yếu là cái xấu tinh thần của người ta… Đã nửa thế kỷ nay nhà thơ non Côi sông Vị đã trả lại hình hài cho cát bụi, tiếng nói của ông, tiếng nói của thi ca, của trào phúng đạt đến mực Chân – Thiện – Mỹ vẫn còn vang dội non sông đất Việt. Trần Tế Xương là một thiên tài trào phúng đã đi vào cõi bất diệt” [16; tr.
Qua trang viết Tú Xương với những phóng sự bằng thơ, nhà nghiên cứu Trần Thị Trâm trên cơ sở thống kê, phân tích về 45 nhân vật bị lôi đích danh, 39 cái tên địa danh, 31 bài viết về thi cử, 10 bài giễu quan dốt, 23 bài viết về sự vô đạo trong gia đình, đã đi tới nhận xét: “Thơ Tú Xương không chỉ nhằm hướng đến cái tâm, cái đạo mà là nhằm phản ánh những điều trong thấy. Vì vậy, ông đã lựa chọn một thủ pháp biểu hiện mới mẻ và hữu hiệu nhằm tạo nên những điển hình. Ông đã chọn cách điệu méo mó, đẩy sự vật đến cực đoan, từ đó mà phát hiện ra bản chất sự vật […] Tú Xương là một nhà thơ lớn bởi ông là người đầu tiên góp cho lịch sử văn học những “phóng sự” bằng thơ vô giá” [16; tr. Trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, trong chương chín – Trần Tế Xương (1870 – 1907), nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Lộc không chỉ nhấn 3 mạnh bức tranh xã hội mà đã quan tâm đúng mức đến các vấn đề cốt lõi khác như “Cái tôi trong thơ Tú Xương, một điển hình nghệ thuật”, “Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú Xương”.
Tác giả đã có những đúc kết chuẩn mực:“Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào phúng. Ngự trị trong thơ ông là cái ngôn ngữ hoạt bát mà sắc cạnh, uyển chuyển mà chính xác, đa dạng trong cách nói, phong phú trong cách thể hiện; ngôn ngữ hằng ngày nhiều ví von, nhiều tục ngữ, thành ngữ, một ngôn ngữ đầy sức sống của dân tộc, của thời đại. Tú Xương là một trong những nhà thơ có một ảnh hưởng rõ nét đối với đời sau” [9; tr. Trong quyển Những gương mặt tiêu biểu thi ca Việt Nam, với mục Thơ Tú Xương, tác giả Kiều Văn đã đánh giá về thơ Tú Xương như sau: “Ông đã có công lớn phát huy khả năng phong phú và đặc thù của tiếng Việt, một ngôn ngữ sắc bén, có sức công phá mạnh mẽ và vô cùng “hóm”.
Ông có biệt tài dùng những từ ngữ cửa miệng của người bình dân để sáng tác nên những bài thơ đặc sắc mang phong cách hoàn toàn riêng biệt của ông” [21; tr. Trong cuốn Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, tác giả Đào Hồng Nguyên đã góp thêm một hướng tiếp cận về thơ Tú Xương, định vị thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Tác giả đã kết luận: “Với nhiều chuyển biến khác lạ và những đột phá táo bạo vào qui phạm thơ ca trung đại và hệ thống tư duy thơ trung đại, thơ ông Tú xứng đáng được xem là nhịp nối liền hai dòng thơ cổ điển và hiện đại, là cái ngạch nối, là mắt xích quan trọng cho sự phát triển liên tục của thơ ca dân tộc từ trung đại sang hiện đại” [11; tr. Và khẳng định: “Tiến trình phát triển của văn học dân tộc nói chung và tiến trình vận động phát triển của văn học Việt Nam từ trung đại sang hiện đại nói riêng là một tiến trình phát triển liên tục và không ngừng.
Những yếu tố khác lạ mang đậm tính thị dân có xu hướng đột phá nhằm vượt ra khỏi phạm trù cổ điển để vươn tới phạm trù hiện trong thơ Tú Xương là những nhân tố đặc biệt cần thiết cho tiến trình ấy” [11; tr.