CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN NHÂN SINH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về cảnh quan nhân sinh trên thế giới 1.
Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Tây Âu và Bắc Mỹ Cảnh quan nhân sinh được quan tâm từ lâu nhưng quan niệm, tên gọi và cách phân chia những cảnh quan bị tác động bởi các hoạt động kinh tế của con người lại có những điều khác nhau. Năm 1926, nhà địa lý văn hóa Mỹ Carl Sauer đưa ra nghiên cứu về những cảnh quan tự nhiên chịu tác động bởi các hoạt động của con người.Ông đã xem cảnh quan tự nhiên là đối tượng, còn văn hoá là nhân tố tác động lên cảnh quan.Kết quả là sự hình thành các cảnh quan văn hoá. Đồng thời, ông cũng cho rằng yếu tố văn hoá thay đổi theo thời gian nên cảnh quan văn hoá có thể được trẻ hoá hoặc hình thành với cấu trúc và chức năng mới của cảnh quan văn hoá. [3] Kết quả Dân số Cảnh quan tự nhiên Đô thị Cảnh Nông nghiệp quan Thời gian Công nghiệp văn.
Quan niệm về cảnh quan văn hóa (Carl Sauer, 1926) Theo Carl Sauer, những cảnh quan được tạo thành sau khi có hoạt động của một nền văn hóa hay một nhóm yếu tố văn hóa lên tự nhiên, những cảnh quan đó được gọi là cảnh quan văn hóa. Quan niệm của tác giả Sauer đã được khẳng định lại và nhấn mạnh trong Từ điển địa lý nhân văn xuất bản năm 2001 ở Anh “CQ văn hóa được tạo thành từ CQ tự nhiên bởi sự tác động của nhóm yếu tố văn hóa. Văn hóa là chủ thể tác động, CQ tự nhiên là đối tượng bị tác động và CQ văn hóa là kết quả”. 4 z Tiếp đó, nhà khoa học người Anh, Lovejoy đã đi sâu nghiên cứu những cảnh quan bị tác động bởi con người.
Theo tác giả, những nơi có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, thường xuyên chịu tác động của con người (ví dụ như Aixơlen) thì ở đó hình thành nên cảnh quan nhân sinh. Quan niệm này nói lên nguồn gốc nghiên cứu cảnh quan nhân sinh từ việc nghiên cứu các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh tự nhiên. Do đó theo ông không nên tách biệt cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh.[23] Arntzen (2002), khi nghiên cứu khu rừng xung quanh thành phố, tác giả đã xem cảnh quan văn hóa là kết quả của sự đan xen hội nhập giữa con người và văn hóa với tự nhiên.[20] Các tác giả Olwig (1996) và Muir (2005) khi viết về các công viên thành phố cũng xem chúng là những cảnh quan văn hóa được tạo ra để “duy trì giá trị tinh thần của con người, là nơi để giảm bớt sự căng thẳng của cuộc sống thường ngày”.[20] Khi nghiên cứu cảnh quan văn hóa Mỹ trong một thời gian dài, Hoff Jackson đã hiểu cảnh quan văn hóa dưới góc độ kiến trúc cảnh quan. Sau này đây là cơ sở để hình thành ngành kiến trúc cảnh quan trên thế giới, đó là “lập kế hoạch phát triển, thiết kế, quản lý và bảo tồn cảnh quan của khu vực”.[25] Elservier (1999), trong nghiên cứu “Bền vững cảnh quan nông thôn”, tác giả đã xem xét các hướng nghiên cứu quản lý bền vững cảnh quan khu vực nông thôn.
Theo đó tác giả cho rằng sự thay đổi trong sử dụng đất của xã hội và các tổ chức dẫn đến sự thay đổi của cảnh quan. Do vậy theo tác giả cần thiết phải sửa đổi chính sách nông nghiệp, tăng cường giữ gìn các cảnh quan văn hóa, là đã góp phần sử dụng bền vững đất nông nghiệp.[18] Năm 2000, tác giả Farina định nghĩa cảnh quan văn hóa được hình thành do hoạt động của con người hàng nghìn năm, tạo ra một tập hợp độc đáo các mô hình, các loài và các quá trình xảy ra trong đó. Do vậy theo ông, cảnh quan văn hóa phản ánh sự tương tác lâu dài giữa người dân và môi trường tự nhiên của họ. [21] Trong công trình nghiên cứu về ứng dụng viễn thám trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan (2004), tác giả Peterseil cùng nhiều người khác đã tiến hành thành lập bản đồ cảnh quan văn hóa ở Áo, bao gồm các nhóm loại cảnh quan chia theo tính chất của đất, cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá tính bền vững cho việc sử dụng các loại cảnh quan văn hóa ở đây.[22] 5 z Theo Atilia Peano và Claudia Casatela (2011), chỉ tiêu cảnh quan bao gồm các nhân tố: sinh thái, lịch sử - văn hóa, nhận thức của con người, hiện trạng sử dụng đất và nhân tố kinh tế.
Các nhân tố này tác động tổng hợp và tương hỗ với nhau làm nên tính chất riêng của mỗi cảnh quan.[19] Cấu trúc, Chức năng, quá mô hình trình Điểm đặc Giá trị Sinh thái trưng kinh tế Nâng cao Sức mạnh Kinh tế Lịch sử và Chỉ tiêu sự hiểu biết kinh tế cảnh văn hóa quan Thông tin Sử dụng Nhận thức Biểu hiện đất Khả năng Mô tả Nhận thức nhận thức Thông tin xã hội Hình 1. Chỉ tiêu cảnh quan (Atilia Peano & Claudia Casatela, 2011) Tác giả Mauro Agnoletti (2006),trong tác phẩm “Bảo tồn cảnh quan văn hóa”, ông đã viết “Cảnh quan văn hóa ngày nay là một nguồn tài nguyên, liên quan đến phần lớn các lĩnh vực như qui hoạch, di sản văn hóa, bảo tồn thiên nhiên, phát triển nông thôn và lâm nghiệp. Vai trò của cảnh quan đã thay đổi theo thời gian, không còn chỉ trong khía cạnh xã hội mà nó đã trở thành yếu tố thiết yếu nhưng dễ bị thay đổi trong hoạt động phát triển của con người”. Theo ông, công cụ để bảo tồn cảnh quan văn hóa ở cấp độ thế giới là Công ước Di sản Thế giới (WHC) của UNESCO (1972).
Ngoài ra có thể kể đến chính sách nông nghiệp ở Châu Âu cho việc bảo tồn và phát triển cảnh quan thông qua kế hoạch về phát triển nông thôn.[18] Năm 2008, trong tác phẩm “Cảnh quan đảo Địa Trung Hải” của tác giả Vogiatzakis cùng nhiều đồng nghiệp khác ở trung tâm nông nghiệp Anh, đã nghiên cứu tổng quan về lịch sử phát triển và đặc điểm của cảnh quan đảo Địa Trung Hải. Qua tác phẩm này các tác giả đã đề cập đến cảnh quan văn hóa được tạo ra từ sự ảnh hưởng của các quốc gia trong vùng, sự tương tác chặt chẽ giữa cảnh quan thiên nhiên và văn hóa con người. Từ đó, tác giả đề xuất việc sử dụng bền vững cảnh 6 z quan và sinh vật của quần đảo Địa Trung Hải đồng thời bảo tồn sự đa dạng cả về văn hóa và tự nhiên của khu vực này. Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Liên bang Nga và Đông Âu Năm 1930, Gozep sử dụng thuật ngữ cảnh quan nhân sinh (CQNS) vào việc phân định các dạng lãnh thổ ở khu địa hình karst.
Ramenxki (1935, 1938) chú ý việc hình thành cảnh quan dưới tác động con người. Theo ông, đối tượng nghiên cứu của cảnh quan không những là cảnh quan tự nhiên, mà cả cảnh quan bị biến đổi do con người và những cảnh quan văn hoá do con người tạo ra. Pervukhin (1938), khi tiến hành tổng kết 20 năm phát triển của cảnh quan học Liên Xô, đã nhận thấy sự quan tâm của các nhà khoa học cảnh quan tự nhiên tăng lên đối với việc tái tạo các cảnh quan do hoạt động của con người và họ còn chỉ ra sự điều chỉnh cho phù hợp hơn vai trò của con người trong sự xây dựng các cảnh quan văn hóa và cảnh quan nhân sinh. Irlinxki (1941) đưa ra một bản tổng hợp ngắn gọn về tính chuyển đổi có quy luật của cảnh quan rừng trồng sang cảnh quan thảo nguyên và sang cảnh quan nhân sinh.
Theo ông, cảnh quan nhân sinh có tính đặc thù và là kết quả rất xa sau diễn thế rừng trồng. Quan niệm nay vẫn chưa mô tả rõ bản chất của CQNS, do đó quan điểm này bị bó hẹp trong nghiên cứu của riêng ông. Kotenikov là người có đóng góp đầu tiên cho việc phân loại cảnh quan nhân sinh. Theo ông cảnh quan được làm 5 loại, dựa trên mức độ biến đổi cảnh quan do tác động của con người: Cảnh quan không biến đổi, cảnh quan biến đổi yếu, cảnh quan biến đổi trung bình, cảnh quan biến đổi mạnh, cảnh quan được xây dựng bởi các kế hoạch của con người.
Năm 1961, Deculin đưa ra hệ thống phân loại về các loại cảnh quan, theo mức độ tăng dần các yếu tố nhân sinh và giảm dần các yếu tố tự nhiên trong bậc phân loại: Cảnh quan tự nhiên, cảnh quan tự nhiên – nhân sinh, cảnh quan phục hồi tự nhiên, cảnh quan canh tác. Prokaev đưa ra hệ thống phân loại chia thành 2 nhóm: tự nhiên và nhân sinh. Ông chỉ ra được sự tồn tại song song của hai nhóm cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh, nguồn gốc của cảnh quan nhân sinh, song hệ thống này lại khá phức tạp với nhiều 7 z nhóm loại cảnh quan bị biến đổi sẽ gây khó khăn trong việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu ứng dụng cụ thể.Ixatrenko (1965, 1971): Cảnh quan nhân sinh là sự biến dạng khác nhau của cảnh quan tự nhiên do hoạt động khác nhau của con người. Khái niệm này có sự tương đồng với một số tác giả sau này và qua đó, có thể phân loại CQNS theo mức độ biến đổi.
Ixatsenko nhận thấy có thể phân loại cảnh quan văn hóa hay cảnh quan nhân sinh tùy theo mức độ tác động của con người. Đồng thời ông cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều hệ thống phân loại cảnh quan nhân sinh, trong đó có phân loại theo nội dung, nguồn gốc hình thành và sự cần thiết phải phân loại theo hệ thống các cấp bậc cảnh quan.Minkov (1973): Cảnh quan nhân sinh là cảnh quan được xây dựng bởi con người và cũng là các cảnh quan tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một thành phần nào bị thay đổi tận gốc do ảnh hưởng của con người. Bên cạnh đó, Minkov đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan theo các dấu hiệu như sau: - Theo nội dung (cảnh quan nông nghiệp, cảnh quan công nghiệp, cảnh quan thủy vực, cảnh quan rừng, cảnh quan quần cư nông thôn) - Theo mức độ tác động của con người (cảnh quan nhân sinh mới hình thành do hoạt động của con người, CQNS đã bị biến đổi bởi con người) - Theo nguồn gốc (cảnh quan kỹ thuật, cảnh quan đồng ruộng, cảnh quan nương rẫy.