Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng dân số đô thị và tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng đang khiến khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam tăng trưởng trung bình khoảng 10% mỗi năm. Ước tính mỗi ngày cả nước phát sinh hơn 60.000 tấn rác thải, nhưng hiện chỉ có khoảng 15% lượng rác thu gom được tái chế hoặc tái sử dụng; phần còn lại chủ yếu xử lý bằng hình thức chôn lấp hoặc đốt thủ công. Riêng tại thủ đô Hà Nội, khối lượng rác thải phát sinh hàng ngày dao động từ 6.000 đến 7.000 tấn, tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống hạ tầng xử lý, đặc biệt là tình trạng quá tải nghiêm trọng tại các bãi rác tập trung như Nam Sơn và Xuân Sơn với cự ly vận chuyển kéo dài từ 50 km đến 90 km.

Vấn đề cốt lõi hiện nay là quy trình thu gom rác tại Hà Nội vẫn mang tính chất truyền thống, rác thải hữu cơ chiếm từ 50% đến 70% bị trộn lẫn với rác vô cơ và rác tái chế, làm suy giảm giá trị kinh tế của vật liệu và phát sinh lượng nước rỉ rác gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và thực thi nghiêm túc Luật Bảo vệ Môi trường 2020, nghiên cứu này tập trung phân tích các nhân tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2022 - 2023.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là xác định mức độ ảnh hưởng của nhận thức, chuẩn mực xã hội và kiến thức đến ý định phân loại rác của thanh thiếu niên, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp chính sách và giáo dục khả thi trước mốc thời gian ngày 31 tháng 12 năm 2024 khi các chế tài xử phạt theo Nghị định 45/2022/NĐ-CP chính thức bắt buộc áp dụng trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng mô hình phân tích dựa trên nền tảng Thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) do Ajzen phát triển năm 1991, kế thừa từ Thuyết Hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen năm 1975. Ba thành tố cốt lõi của mô hình TPB gồm: Thái độ đối với hành vi (Attitude - ATT), Chuẩn chủ quan (Subjective Norms - SN), và Kiểm soát hành vi cảm nhận (Perceived Behavioral Control - PBC).

Để phù hợp với đặc thù quản lý chất thải đô thị tại Việt Nam, mô hình nghiên cứu đã tích hợp mở rộng thêm hai biến quan trọng: Yếu tố tình huống (Situational Factors - SF) dựa trên khung nghiên cứu của Saripah Abdul Latif và cộng sự năm 2012, cùng với Yếu tố Kiến thức môi trường (Knowledge - KN) theo mô hình của Shanyong Wang và cộng sự năm 2020.

Về mặt khái niệm chuyên ngành, nghiên cứu căn cứ vào Khoản 18 và Khoản 19 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 để định danh chất thải rắn sinh hoạt. Quy trình phân loại tại nguồn được phân tách theo Điều 75 thành 3 nhóm cơ bản: chất thải có khả năng tái sử dụng hoặc tái chế; chất thải thực phẩm; và chất thải rắn sinh hoạt khác. Ý định phân loại tại nguồn (Behavioral Intention - IN) đóng vai trò là biến phụ thuộc trực tiếp dẫn đến hành vi thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học cao:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng khảo sát cấu trúc chuẩn hóa, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ mức 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến mức 5 (hoàn toàn đồng ý). Bộ câu hỏi được tham vấn chuyên gia môi trường trước khi gửi trực tuyến đến các nhóm học sinh trung học phổ thông tại các trường nội thành và ngoại thành Hà Nội. Từ 114 phiếu thu về, tác giả sàng lọc và giữ lại 113 mẫu hợp lệ để xử lý dữ liệu.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo khối (cluster sampling) được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho quần thể học sinh THPT thủ đô. Cỡ mẫu 113 quan sát đáp ứng hoàn toàn điều kiện phân tích nhân tố khám phá EFA theo tỷ lệ quan sát trên biến đo lường đạt chuẩn 5:1 (đối với 19 biến quan sát) theo khuyến nghị phương pháp luận của Hair và cộng sự năm 2014.

Quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS phiên bản 23 và AMOS bao gồm: Đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha (yêu cầu hệ số lớn hơn 0,6 và tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3); Phân tích nhân tố khám phá EFA với phép quay Varimax; Phân tích nhân tố khẳng định CFA; và Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để xác thực 5 giả thuyết từ H1 đến H5 trong khung thời gian nghiên cứu niên khóa 2022 - 2023.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy 61,9% học sinh trung học phổ thông được hỏi cho biết đã từng thực hiện phân loại rác tại nơi cư trú. Tuy nhiên, hoạt động này chủ yếu dừng lại ở việc gom các loại rác tái chế có giá trị thương mại như vỏ chai nhựa, lon kim loại và giấy vụn để bán cho lực lượng thu gom phế liệu hoặc tích trữ theo yêu cầu của người lớn trong gia đình, chưa hình thành nếp phân loại rác thực phẩm hữu cơ.

Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha đã loại bỏ 2 biến quan sát không đạt chuẩn là SN4 và IN2. Sau khi tinh chỉnh, tất cả 6 thang đo đều đạt độ tin cậy cao với hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,753 đến 0,891. Phân tích EFA trên 19 biến quan sát còn lại cho kết quả tối ưu: Hệ số KMO đạt 0,821; kiểm định Bartlett đạt giá trị 1363,632 với mức ý nghĩa p dưới 0,001; tổng phương sai trích đạt 78,975% (vượt xa ngưỡng chuẩn 50%) và chỉ số Eigenvalue của nhân tố thứ sáu đạt 1,051.

Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc SEM với độ tin cậy 95% khẳng định:

  • Kiến thức phân loại rác (KN) là nhân tố có tác động tích cực mạnh nhất đến Ý định phân loại rác tại nguồn (IN) với trọng số hồi quy chuẩn hóa beta bằng 0,307 (mức ý nghĩa p dưới 0,05).
  • Chuẩn chủ quan (SN) có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến Ý định phân loại (IN) với hệ số beta bằng 0,210 (mức ý nghĩa p dưới 0,05).
  • Các giả thuyết về tác động của Thái độ (ATT với p bằng 0,641), Kiểm soát hành vi cảm nhận (PBC) và Yếu tố tình huống (SF) đều bị bác bỏ do không đạt mức ý nghĩa thống kê 5%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu mô hình SEM chỉ ra rằng trang bị kiến thức môi trường (KN = 0,307) là đòn bẩy quan trọng nhất kích hoạt hành vi tự giác của học sinh. Khi hiểu rõ rác hữu cơ chiếm 50% - 70% khối lượng rác sinh hoạt có thể sản xuất phân bón vi sinh, học sinh sẽ có động lực mạnh mẽ để phân loại. Tác động của Chuẩn chủ quan (SN = 0,210) chứng minh sức ảnh hưởng đáng kể từ sự định hướng của nhà trường, phụ huynh và tổ chức đoàn thể.

Sự thiếu ý nghĩa thống kê của biến Thái độ (ATT) và Biến kiểm soát hành vi (PBC) phản ánh rõ nét khoảng cách giữa nhận thức lý thuyết và hành động thực tiễn (attitude-behavior gap). Mặc dù đại đa số học sinh đều có thái độ tích cực với bảo vệ môi trường, nhưng việc thiếu hệ thống thùng rác 3 ngăn đồng bộ và tình trạng xe thu gom dồn chung tất cả các loại rác sau khi phân loại đã làm triệt tiêu niềm tin kiểm soát hành vi của các em.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ mối quan hệ tác động được phản ánh rõ nét qua Bảng trọng số hồi quy chuẩn hóa SEM, Sơ đồ đường dẫn phân tích nhân tố và Biểu đồ phân bổ tỷ lệ nhận thức, cung cấp bức tranh dữ liệu toàn diện về hành vi phân loại rác học đường.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu định lượng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả phân loại rác tại nguồn:

Thứ nhất, chuẩn hóa và tích hợp giáo trình hướng dẫn phân loại rác thải vào chương trình giáo dục chính khóa và ngoại khóa tại 100% trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội. Mục tiêu nâng cao ít nhất 40% điểm bài kiểm tra nhận thức môi trường của học sinh theo đúng quy định phân chia 3 nhóm rác của Luật Bảo vệ Môi trường 2020. Thời gian triển khai từ năm học 2023 - 2024 do Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội chủ trì phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ hai, đầu tư lắp đặt đồng bộ hệ thống thùng rác phân loại 3 màu (tái chế, hữu cơ, rác còn lại) tại tất cả các khuôn viên trường học, lớp học và các điểm tập kết công cộng. Target metric là đạt độ phủ 100% cơ sở giáo dục có hạ tầng thu gom chuẩn hóa trước quý 3 năm 2024, giảm thiểu 30% tỷ lệ rác thải bị trộn lẫn trước khi bàn giao cho đơn vị vận chuyển. Chủ thể thực hiện gồm Ủy ban nhân dân các quận, huyện và Ban Giám hiệu các trường THPT.

Thứ ba, kết nối và số hóa mạng lưới liên kết giữa trường học với hơn 85.000 lao động thuộc hệ thống thu gom phi chính thức (người thu mua phế liệu, đồng nát) cùng hơn 1.000 điểm tập kết phế liệu trên địa bàn thành phố. Mục tiêu gia tăng tỷ lệ thu hồi chất thải tái chế trong học đường lên trên 50% trong giai đoạn 2024 - 2026, do Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) phối hợp với các hợp tác xã môi trường thực hiện.

Thứ tư, đẩy mạnh chiến dịch truyền thông về chế tài xử phạt vi phạm hành chính từ 500.000 đến 1.000.000 đồng theo Điều 26 Nghị định 45/2022/NĐ-CP. Thành lập các "Đội thanh niên xung kích xanh" tại 100% chi đoàn trường học nhằm giám sát, thi đua và tuyên truyền đến từng hộ gia đình học sinh trước hạn chót bắt buộc ngày 31 tháng 12 năm 2024, do Thành đoàn Hà Nội và chính quyền địa phương phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách đô thị (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, UBND các cấp). Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về phản ứng chính sách của người dân trẻ tuổi, giúp cơ quan quản lý hoàn thiện văn bản hướng dẫn thực thi Điều 75 và Điều 79 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 tại địa phương.

Nhóm thứ hai là Ban Giám hiệu, cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên tại các trường trung học phổ thông. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng mô hình "Trường học không rác thải", thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo và tổ chức các câu lạc bộ thanh niên bảo vệ môi trường đạt hiệu quả thực chất.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp dịch vụ vệ sinh môi trường, các nhà máy xử lý rác và đơn vị tái chế chất thải rắn. Kết quả phân tích giúp doanh nghiệp tối ưu hóa kế hoạch logistics thu gom, phân loại sơ bộ tại nguồn và tính toán phương án đầu tư công nghệ phân loại phù hợp với từng luồng rác đô thị.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế tài nguyên môi trường, Quản lý công và Xã hội học. Đề tài là tài liệu tham khảo phương pháp luận chuẩn mực về ứng dụng mô hình TPB mở rộng, quy trình xử lý dữ liệu SPSS, phân tích EFA, CFA và cấu trúc SEM.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luật Bảo vệ Môi trường 2020 quy định phân loại rác sinh hoạt thành những nhóm nào? Điều 75 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 quy định chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình phải phân chia thành 3 nhóm: Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; Chất thải thực phẩm; và Chất thải rắn sinh hoạt khác. Quy định này tạo nền tảng chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn và giảm thiểu tỷ lệ chôn lấp.

  2. Tại sao biến Kiến thức lại có tác động mạnh nhất đến ý định phân loại rác của học sinh? Kết quả phân tích SEM cho thấy biến Kiến thức đạt hệ số beta cao nhất bằng 0,307 (p dưới 0,05). Thực tế học sinh có mong muốn bảo vệ môi trường nhưng thường lúng túng khi nhận diện rác hữu cơ và vô cơ. Khi được trang bị quy chuẩn phân loại chính xác, sự tự tin và ý định hành động của các em tăng lên rõ rệt.

  3. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi không phân loại rác tại nguồn là bao nhiêu? Theo Khoản 1 Điều 26 Nghị định 45/2022/NĐ-CP, hành vi không phân loại chất thải rắn sinh hoạt theo quy định hoặc không sử dụng bao bì đúng chuẩn sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Quy định này bắt đầu áp dụng lộ trình toàn diện từ sau ngày 31 tháng 12 năm 2024.

  4. Lực lượng thu gom phế liệu phi chính thức đóng vai trò gì tại Hà Nội? Thành phố hiện có hơn 85.000 người tham gia mạng lưới thu gom phi chính thức, trong đó có hơn 10.000 người chuyên thu mua phế liệu trực tiếp. Lực lượng này giúp thu hồi phần lớn rác tái chế có giá trị cao, giảm tải hàng ngàn tấn rác chôn lấp mỗi ngày tại các bãi rác tập trung.

  5. Vì sao biến Thái độ không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu này? Phân tích mô hình SEM cho thấy biến Thái độ có giá trị p bằng 0,641 (lớn hơn 0,05). Điều này giải thích hiện tượng đa số học sinh đều đánh giá phân loại rác là việc làm tốt, nhưng do thiếu thốn hạ tầng thùng rác chuyên dụng nên thái độ tích cực chưa thể chuyển hóa trực tiếp thành ý định hành vi cụ thể.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị và phát triển thành công mô hình Thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) mở rộng cho đối tượng học sinh THPT.
  • Dữ liệu khảo sát thực nghiệm chứng minh rằng Kiến thức môi trường (beta = 0,307) và Chuẩn chủ quan (beta = 0,210) là hai nhân tố then chốt quyết định ý định phân loại rác tại nguồn của thanh thiếu niên Hà Nội.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA và khẳng định CFA đạt các chỉ số tin cậy khoa học xuất sắc với tổng phương sai trích 78,975% và hệ số KMO đạt 0,821.
  • Đề tài đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa giáo dục học đường, hạ tầng thu gom 3 ngăn và thực thi chế tài xử phạt theo Nghị định 45/2022/NĐ-CP.
  • Kế hoạch hành động cần được triển khai quyết liệt theo lộ trình từ nay đến trước ngày 31 tháng 12 năm 2024 nhằm tạo chuyển biến căn bản về phân loại rác tại nguồn trong thế hệ trẻ.

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thủ đô văn minh và xanh - sạch - đẹp, các cấp quản lý giáo dục, chính quyền đô thị và mỗi gia đình học sinh cần chung tay hành động ngay hôm nay, đưa việc phân loại rác tại nguồn trở thành thói quen văn hóa hàng ngày của thế hệ tương lai.