Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Chế định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật xác định hành vi phạm tội và chế tài áp dụng đối với các vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm quân sự. Đây là công cụ pháp lý phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Về mặt lập pháp, các quy định này được hình thành từ năm 1946. Đến Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, chế định này lần đầu tiên được tách thành một chương độc lập (Chương XI gồm 28 tội danh) và tiếp tục được ghi nhận tại Chương XXIII (gồm 27 tội danh) của BLHS năm 1999. Mặc dù các cơ quan chức năng đã ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng, nhiều quy định của BLHS vẫn bộc lộ hạn chế: thiếu tính chặt chẽ, chưa bảo đảm tính khoa học và tính logic với các chương khác của Bộ luật. Việc sửa đổi BLHS năm 1999 đã hủy bỏ quy định về tội vắng mặt trái phép và sửa đổi cấu thành tội đào ngũ, dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng.

Về mặt thực tiễn, số lượng các vụ án về nhóm tội này chưa có chiều hướng giảm, tính chất hành vi ngày càng phức tạp. Một số hành vi vi phạm đã vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của chế định hiện hành. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội vẫn còn tình trạng để lọt tội phạm, định tội danh chưa chuẩn xác hoặc xuất hiện quan điểm áp dụng thiếu thống nhất do quy định của luật chưa rõ ràng. Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn để phục vụ yêu cầu cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật hình sự là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là kế thừa, phát triển hệ thống lý luận về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; đồng thời đề xuất các giải pháp khoa học nhằm hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về nhóm tội phạm này.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân: làm rõ sự cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự; xác định khái niệm tội phạm; luận giải cơ sở trách nhiệm hình sự và các hình thức trách nhiệm hình sự áp dụng đối với nhóm tội này.
  2. Xem xét, phân tích và đánh giá tính khoa học, tính pháp lý của các quy định trong BLHS hiện hành về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.
  3. Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng quân sự, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự thuộc nhóm tội này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Các quy định của pháp luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật hình sự của một số quốc gia.
    • Về thời gian: Thực tiễn hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2010).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình luận án tiến sĩ hay luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu toàn diện, độc lập về đề tài này. Nhóm tội phạm này chủ yếu được đề cập ở các cấp độ sau:

  • Cấp độ giáo trình: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, và Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh mới chỉ trình bày các nội dung ở mức độ cơ bản.
  • Cấp độ bình luận khoa học và sách chuyên khảo:
    • Tập thể tác giả Lê Đức Tiết, Lê Thanh Trung, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Văn Hợp (1987) với cuốn sách chuyên khảo Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (NXB Pháp lý), tập trung phân tích, giải thích các điều luật của BLHS năm 1985.
    • PGS. TS. Trần Văn Độ (2000) viết chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật hình sự do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) phát hành.
    • TS. Nguyễn Đức Mai (2000) viết chương tương ứng trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật hình sự do NXB Công an nhân dân phát hành.
  • Cấp độ bài báo khoa học chuyên khảo: Các bài viết trên tạp chí chuyên ngành tập trung vào từng tội danh đơn lẻ (chủ yếu là tội đào ngũ), gồm: ThS. Nguyễn Văn Trượng (Tạp chí Tòa án nhân dân số 12/2000), Lê Văn Sua (Tạp chí Tòa án nhân dân số 9/2002), ThS. Bùi Quang Thạch và CN. Trương Hùng Biện (Tạp chí Kiểm sát số 24/2006).
  • Các công trình đã công bố của chính tác giả (NCS. Nguyễn Mai Bộ): Các sách chuyên khảo Tìm hiểu các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (1998), Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (2006); các bài báo trên Tạp chí Tòa án nhân dân: “Áp dụng hình phạt quản chế đối với quân nhân phạm tội” (số 12/1993), “Tội đào ngũ” (số 6/1995), “Tước danh hiệu quân nhân đối với các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” (số 3/1998).

Các nghiên cứu nước ngoài

Luận án tiếp cận một số tài liệu khoa học pháp lý nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt:

  • Công trình Bình luận khoa học Luật về trách nhiệm hình sự của các tội quân sự (1986) của GS. Ter-Akopov.
  • Giáo trình luật hình sự (1988) do NXB Pháp lý Mát-xcơ-va phát hành.
  • Các quy định pháp luật hình sự về tội phạm quân sự của Liên bang Xô viết (BLHS 1960 sửa đổi 1984), Liên bang Nga (BLHS 1996), Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (BLHS 1979 và 1997), Vương quốc Thụy Điển, Cộng hòa Pháp (1992) và bang Tây Úc.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có các công trình bình luận và giáo trình, khoa học luật hình sự Việt Nam vẫn thiếu một công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng thể ở cấp độ tiến sĩ nhằm: hệ thống hóa lý luận về chế định này; làm rõ bản chất cơ sở trách nhiệm hình sự trên ba bình diện (nội dung, hình thức, quy phạm); phân tích toàn diện 4 yếu tố cấu thành tội phạm đặc thù; và chỉ ra những điểm bất cập mang tính hệ thống của BLHS năm 1999 để đưa ra đề xuất lập pháp cụ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng có tính kỷ luật nghiêm minh.
  • Sử dụng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.
  • Sử dụng lý thuyết cấu thành tội phạm và lý luận về trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự Việt Nam (kế thừa các quan điểm của TSKH. Đào Trí Úc, GS. TSKH. Lê Cảm, GS. Đỗ Ngọc Quang, PGS. TS. Trần Văn Độ, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp hệ thống: Xem xét các quy định của Chương XXIII trong mối quan hệ hữu cơ với Phần chung của BLHS và hệ thống văn bản pháp luật quân sự.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo sát quá trình hình thành, phát triển của chế định từ năm 1946, qua BLHS 1985 đến BLHS 1999.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của BLHS Việt Nam với mô hình lập pháp hình sự của Liên bang Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Pháp... để rút ra giá trị tham khảo.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm, làm rõ nội hàm khách thể, chủ thể, mặt khách quan và chủ quan.
  • Phương pháp thống kê và chuyên gia: Tổng hợp số liệu thực tiễn áp dụng pháp luật, phân tích các bản án, lấy ý kiến thực tiễn của cán bộ làm công tác tố tụng quân sự.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp luật: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Quốc phòng, Pháp lệnh Dân quân tự vệ, Pháp lệnh Lực lượng dự bị động viên, Điều lệnh Quản lý bộ đội, Điều lệ Quân nhân chuyên nghiệp.
  • Văn bản hướng dẫn áp dụng: Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP ngày 11/8/2003 hướng dẫn áp dụng Chương XXIII BLHS 1999; Quyết định số 2530/2000/QĐ-BQP ngày 02/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xử lý kỷ luật quân đội.
  • Dữ liệu thực tiễn: Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân tại hệ thống Tòa án quân sự và Viện kiểm sát quân sự các cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương nội dung:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, luận chứng sự cần thiết quy định trách nhiệm hình sự, xác định cơ sở trách nhiệm hình sự và phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm đặc thù.

1. Sự cần thiết quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Tác giả nêu 6 căn cứ luận giải sự cần thiết:

  1. Xuất phát từ nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin: xây dựng quân đội cách mạng đòi hỏi kỷ luật nghiêm khắc nhất; tội phạm xâm phạm kỷ luật quân đội và chế độ phục vụ là nguy cơ trực tiếp làm suy giảm sức mạnh chiến đấu.
  2. Xuất phát từ vai trò của Luật hình sự: ngành luật quy định tội phạm và hình phạt để bảo vệ thành quả cách mạng và an ninh quốc phòng.
  3. Bảo đảm nguyên tắc công bằng: hành vi vi phạm nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm tương xứng và không thoát khỏi chế tài.
  4. Làm cơ sở pháp lý truy cứu trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc pháp chế (chỉ xử lý người thực hiện hành vi đã được BLHS quy định).
  5. Thể hiện tính chủ động phòng ngừa, trừng trị kết hợp giáo dục, cải tạo người phạm tội.
  6. Tính chất nguy hiểm đặc biệt của hành vi do chủ thể đặc thù (quân nhân và người có nghĩa vụ như quân nhân) thực hiện, xâm phạm trực tiếp đến sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

2. Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Trên cơ sở phân tích 3 xu hướng lập pháp trên thế giới:

  • Xu hướng 1: Không quy định tội phạm quân sự trong BLHS (BLHS Trung Quốc 1979, BLHS Pháp 1992, Tây Úc).
  • Xu hướng 2: Quy định tội phạm trong BLHS nhưng không đưa ra định nghĩa chung (BLHS Thụy Điển, BLHS Việt Nam 1985 và 1999).
  • Xu hướng 3: Quy định chương riêng và có định nghĩa chung (BLHS Liên Xô 1960 - Điều 237, BLHS Nga 1996 - Điều 331, BLHS Trung Quốc 1997 - Điều 420).

Tác giả chỉ ra hạn chế của các định nghĩa trước đó tại Việt Nam và đưa ra định nghĩa chuẩn xác:

“Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự, do những người sau đây có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân: quân nhân tại ngũ; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện; công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội; dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu.”

3. Cơ sở trách nhiệm hình sự của nhóm tội phạm

Đồng tình với quan điểm của GS. TSKH. Lê Cảm, tác giả phân tích cơ sở trách nhiệm hình sự trên 3 bình diện:

  • Về nội dung (khách quan): Là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (phân biệt với các hành vi xâm phạm nghĩa vụ chung của công dân như giết người, cướp tài sản do quân nhân thực hiện).
  • Về hình thức: Là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc do luật hình sự quy định làm chuẩn mực để các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Về quy phạm (pháp lý): Là cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được ghi nhận trong BLHS.

4. Các yếu tố cấu thành tội phạm đặc thù

  • Khách thể:
    • Khách thể loại: Các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội giữa đơn vị với quân nhân/người trưng tập/dân quân tự vệ phối thuộc; và giữa các quân nhân/công dân phối thuộc với nhau. Bản chất nội dung là nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bảo đảm sức mạnh và trình độ sẵn sàng chiến đấu.
    • Khách thể trực tiếp: Gồm 7 nhóm quan hệ: (1) Quan hệ chỉ huy - phục tùng; (2) Quan hệ đoàn kết nội bộ; (3) Kỷ luật chiến đấu; (4) Chế độ phục vụ quân sự tại ngũ; (5) Chế độ công tác hàng ngày; (6) Chế độ bảo quản, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự; (7) Quan hệ đoàn kết quân - dân.
  • Mặt khách quan:
    • Hành vi khách quan: Thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Một số tội chỉ thực hiện bằng hành động (làm nhục, hành hung người chỉ huy; làm nhục, hành hung đồng đội; khai báo/làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh; báo cáo sai; hủy hoại vũ khí quân dụng; chiếm đoạt/hủy hoại chiến lợi phẩm).
    • Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Là dấu hiệu bắt buộc trong các tội có cấu thành vật chất. Luận án trích dẫn quy định định lượng thiệt hại nghiêm trọng về vũ khí theo Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT:
Loại vũ khí, trang bị Số lượng bị hủy hoại/làm mất xác định là gây thiệt hại nghiêm trọng
Súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên Từ 3 đến 10 khẩu
Súng bộ binh khác (trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 - 25 mm, B40, B41) Từ 1 đến 5 khẩu
Mìn, lựu đạn Từ 5 đến 15 quả
Đạn cối, đạn pháo Từ 3 đến 10 quả
Đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống Từ 300 đến 1.000 viên
Đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 - 25 mm Từ 200 đến 600 viên
Thuốc nổ các loại Từ 10 đến 30 kg
Nụ xùy hoặc ống nổ Từ 1.000 cái
Dây cháy chậm, dây nổ Từ 3.000 m
  • Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội: Là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt:
    • Thời gian: "phạm tội trong thời chiến", "phạm tội trong chiến đấu".
    • Địa điểm: "khu vực có chiến sự", "khu vực có lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp".
    • Hoàn cảnh: "khi bị bắt làm tù binh", "khi thu dọn chiến trường", "khi thực hiện nhiệm vụ".
    • Phương pháp: "tự gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc thủ đoạn gian dối khác" (tội trốn tránh nhiệm vụ).
  • Chủ thể đặc biệt: Bao gồm 4 nhóm đối tượng quy định tại Điều 315 BLHS 1999:
    1. Quân nhân tại ngũ: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ trong quân đội thường trực.
    2. Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện: Tính từ lúc có mặt tại nơi tập trung đến khi kết thúc đợt huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra sẵn sàng chiến đấu.
    3. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.
    4. Dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu. (Luận án phân tích rõ: Lực lượng Công an nhân dân không phải là chủ thể của nhóm tội này vì có nguyên tắc tổ chức, chỉ huy độc lập theo Điều 19 Luật Công an nhân dân).

Chương 2: Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống hóa quy phạm pháp luật hình sự thực định qua các thời kỳ:

  • Quá trình phát triển lịch sử lập pháp: Khảo sát các sắc lệnh, quy định từ năm 1946, bước ngoặt quy định thành chương riêng trong BLHS năm 1985 (Chương XI với 28 điều luật) và sự kế thừa, sửa đổi trong Chương XXIII BLHS năm 1999 (27 điều luật).
  • Phân tích cấu thành pháp lý của từng tội danh cụ thể: Phân tích chi tiết các nhóm tội danh dựa trên khách thể trực tiếp:
    • Nhóm các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy - phục tùng và đoàn kết nội bộ (Tội chống mệnh lệnh, Tội không chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh, Tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, Tội làm nhục hoặc hành hung chỉ huy/đồng đội...).
    • Nhóm các tội xâm phạm kỷ luật chiến đấu và chế độ trực sẵn sàng chiến đấu (Tội đầu hàng địch, Tội bỏ vị trí chiến đấu, Tội trốn tránh nhiệm vụ, Tội vi phạm quy định trực chiến, trực chỉ huy, trực ban...).
    • Nhóm các tội xâm phạm chế độ phục vụ quân sự tại ngũ (Tội đào ngũ, phân tích hệ quả của việc bãi bỏ tội vắng mặt trái phép).
    • Nhóm các tội xâm phạm chế độ quản lý, sử dụng vũ khí, khí tài quân sự (Tội hủy hoại, Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).
    • Nhóm các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng và đoàn kết quân - dân (Tội quấy nhiễu nhân dân, Tội lạm dụng nhu cầu quân sự...).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và những kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại các cơ quan tư pháp quân sự và đề xuất giải pháp lập pháp:

  • Thực tiễn áp dụng:
    • Tổng hợp tình hình xét xử của hệ thống Tòa án quân sự đối với nhóm tội danh này.
    • Phân tích các khó khăn, vướng mắc: vướng mắc trong phân biệt vi phạm kỷ luật với tội phạm hình sự; sự thiếu đồng bộ giữa BLHS với các văn bản điều lệnh quân đội và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính/kỷ luật; tình trạng định tội danh không thống nhất đối với tội đào ngũ do cách quy định cấu thành tại Điều 325 BLHS 1999.
    • Chỉ ra hệ lụy từ việc bãi bỏ tội vắng mặt trái phép khiến việc xử lý các trường hợp tự ý rời đơn vị nhưng chưa đủ dấu hiệu đào ngũ gặp khoảng trống pháp lý hình sự.
  • Hệ thống kiến nghị hoàn thiện BLHS:
    • Kiến nghị khôi phục tội danh vắng mặt trái phép nhằm lấp khoảng trống pháp lý.
    • Sửa đổi cấu thành tội đào ngũ để phân định rõ ràng giữa hành vi đào ngũ nhằm trốn tránh hẳn nghĩa vụ quân sự với hành vi vắng mặt tạm thời.
    • Chuẩn hóa ngôn ngữ lập pháp và sửa đổi cấu thành một số tội danh có cấu thành vật chất, quy định rõ ràng mức độ thiệt hại trong điều luật.
    • Đề xuất bổ sung, sửa đổi Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng Chương XXIII BLHS để thống nhất nhận thức xét xử trong toàn quân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về chế định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.
  • Luận chứng khoa học và khẳng định sự cần thiết khách quan của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, bảo đảm tính logic với khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS.
  • Xác định và luận giải cơ sở trách nhiệm hình sự của nhóm tội phạm này trên 3 bình diện: nội dung (khách quan), hình thức và quy phạm (pháp lý).
  • Phân tích sâu sắc tính chất đặc thù của 4 yếu tố cấu thành tội phạm, làm rõ 7 nhóm khách thể trực tiếp và 4 diện đối tượng chủ thể đặc biệt theo luật định.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Đánh giá thực trạng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự quân sự; làm rõ các nguyên nhân dẫn đến sai sót, để lọt tội phạm hoặc vướng mắc trong định tội danh.
  • Đưa ra các căn cứ khoa học và kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung các điều luật thuộc Chương XXIII BLHS năm 1999, đặc biệt là việc sửa đổi cấu thành tội đào ngũ và phục hồi tội vắng mặt trái phép, phục vụ trực tiếp cho tiến trình cải cách tư pháp trong Quân đội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu nước ngoài còn khó khăn, việc phân tích, so sánh pháp luật quốc tế trong luận án chủ yếu dựa trên các bản dịch tiếng Việt của một số bộ luật hình sự nước ngoài (Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Pháp).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu mở rộng việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự quân sự và thi hành án phạt tù đối với người phạm tội là quân nhân.
    • Nghiên cứu mô hình phòng ngừa tội phạm quân sự trong bối cảnh hiện đại hóa quân đội và hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cải cách tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về tội phạm quân sự.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng quân sự (Tòa án quân sự, Viện kiểm sát quân sự, Cơ quan điều tra hình sự): Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ trong việc định tội danh, đánh giá chứng cứ, xác định đúng chủ thể và áp dụng khung hình phạt chính xác.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Phục vụ giảng dạy, học tập chuyên đề Luật hình sự chuyên sâu tại các trường đại học luật, Học viện Quân y, Học viện Chính trị và các trường sĩ quan quân đội.

Câu hỏi thường gặp

1. Chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo luật hình sự Việt Nam gồm những ai?

Theo quy định tại Điều 315 BLHS năm 1999 được luận án phân tích, chủ thể của nhóm tội này là chủ thể đặc biệt, gồm 4 nhóm:

  1. Quân nhân tại ngũ (sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ).
  2. Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra sẵn sàng chiến đấu.
  3. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.
  4. Dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu.

2. Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân có phải là chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân không?

Không. Luận án chỉ rõ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân không phải là chủ thể của nhóm tội này. Theo Luật Công an nhân dân, lực lượng CAND có hệ thống chỉ huy riêng độc lập (do Bộ trưởng Bộ Công an là người chỉ huy cao nhất) và không chịu sự chỉ huy của Quân đội. Hành vi vi phạm nghĩa vụ của cán bộ CAND xâm phạm sức mạnh của CAND chứ không xâm phạm trực tiếp chế độ phục vụ hay sức mạnh của Quân đội.

3. Cơ sở trách nhiệm hình sự của nhóm tội phạm này được xác định trên những bình diện nào?

Luận án xác định cơ sở trách nhiệm hình sự trên 3 bình diện:

  • Bình diện nội dung (khách quan): Việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân.
  • Bình diện hình thức: Căn cứ chung, bắt buộc do luật hình sự quy định để cơ quan có thẩm quyền dựa vào truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Bình diện quy phạm (pháp lý): Cấu thành tội phạm cụ thể được ghi nhận tại Chương XXIII của Bộ luật Hình sự.

4. Những bất cập chính trong quy định của BLHS năm 1999 về nhóm tội này được tác giả chỉ ra là gì?

Các bất cập chính gồm: việc bãi bỏ quy định về tội vắng mặt trái phép tạo ra khoảng trống xử lý pháp lý; việc sửa đổi cấu thành tội đào ngũ tại Điều 325 BLHS 1999 gây khó khăn, lúng túng trong định tội danh; và một số cấu thành tội phạm vật chất chưa quy định rõ mức độ hậu quả nguy hiểm, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Mai Bộ là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi, xác định chuẩn xác khái niệm, cơ sở trách nhiệm hình sự và đặc thù 4 yếu tố cấu thành tội phạm của nhóm tội danh này. Đồng thời, trên cơ sở khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại các cơ quan tố tụng quân sự, luận án đã đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện Chương XXIII Bộ luật Hình sự, góp phần phục vụ chiến lược cải cách tư pháp và nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.