Nghiên Cứu Các Tổ Chức Xã Hội - Nghề Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh (1997 - 2017)

Khám phá luận văn thạc sĩ về các tổ chức xã hội nghề nghiệp tại Bắc Ninh giai đoạn 1997-2017, phân tích và đánh giá sự phát triển.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Tổ Chức Xã Hội Bắc Ninh 1997 2017

Nghiên cứu về các tổ chức xã hội - nghề nghiệp Bắc Ninh giai đoạn 1997-2017 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Bắc Ninh chuyển mình thành một trung tâm công nghiệp lớn của miền Bắc. Bài viết này đi sâu vào quá trình hình thành, phát triển, và vai trò của các tổ chức xã hội trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Luận văn của Nguyễn Thị Lan Anh là một nguồn tài liệu quý giá, cung cấp cái nhìn toàn diện về các hiệp hội ngành nghề Bắc Ninh trong giai đoạn đầy biến động này. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phân tích thực trạng hoạt động, đánh giá những đóng góp, và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại của các tổ chức xã hội ở Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới. Mục tiêu là đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tự quản Bắc Ninh trong tương lai.

1.1. Giới Thiệu Chung về Tổ Chức Xã Hội Nghề Nghiệp

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp (XHNN) đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các thành viên có chung lợi ích, mục tiêu nghề nghiệp. Hoạt động của các tổ chức này góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên. Theo luận văn, các tổ chức xã hội nghề nghiệp ở Bắc Ninh giai đoạn 1997-2017 phát triển mạnh mẽ, đa dạng về loại hình và lĩnh vực hoạt động. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào phân tích đặc điểm, cơ cấu tổ chức của các tổ chức xã hội tại Bắc Ninh.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Hiệp Hội Ngành Nghề Bắc Ninh

Nghiên cứu về hiệp hội ngành nghề Bắc Ninh là cần thiết để hiểu rõ hơn về vai trò của các tổ chức xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Thông qua việc đánh giá hoạt động của các hiệp hội ngành nghề, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc xây dựng và phát triển các tổ chức tự quản khác. Đồng thời, nghiên cứu này cũng góp phần cung cấp thông tin, tư liệu cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước để có những quyết định phù hợp, hiệu quả.

II. Lịch Sử Hình Thành Tổ Chức Xã Hội Bắc Ninh Trước 1997

Để hiểu rõ hơn về sự phát triển của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp Bắc Ninh giai đoạn 1997-2017, cần thiết phải nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của chúng trước năm 1997. Các tổ chức xã hội tiền thân đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Sự ra đời và hoạt động của các tổ chức tự quản này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố kinh tế - xã hội, chính trị của từng thời kỳ. Việc nghiên cứu lịch sử tổ chức xã hội Bắc Ninh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của các hiệp hội ngành nghề sau này.

2.1. Bối Cảnh Kinh Tế Xã Hội Ảnh Hưởng Tổ Chức Xã Hội

Trước năm 1997, Bắc Ninh là một tỉnh nông nghiệp với nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với truyền thống văn hóa lâu đời và tinh thần cần cù, sáng tạo, người dân Bắc Ninh đã xây dựng và phát triển nhiều tổ chức tự quản nhằm hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh và bảo vệ quyền lợi. Các yếu tố kinh tế - xã hội như chính sách của nhà nước, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng, và nguồn lực địa phương đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời và hoạt động của các tổ chức xã hội.

2.2. Vai Trò của Tổ Chức Xã Hội Tiền Thân ở Bắc Ninh

Các tổ chức xã hội tiền thân ở Bắc Ninh đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, và hỗ trợ cộng đồng. Theo tài liệu nghiên cứu, các tổ chức như hội đồng hương, hội nghề cá, hội tương tế đã góp phần vào việc xây dựng và phát triển làng xã, bảo vệ quyền lợi của người dân, và duy trì trật tự xã hội. Những hoạt động này là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của các hiệp hội ngành nghề sau này.

2.3. Khái Niệm về Tổ Chức Xã Hội Nghề Nghiệp

Khái niệm tổ chức xã hội - nghề nghiệp cần được hiểu rõ. Đây là tổ chức tự nguyện của công dân, doanh nghiệp có chung ngành nghề, mục tiêu, lợi ích. Tổ chức này hoạt động theo điều lệ, tuân thủ pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, hỗ trợ phát triển ngành nghề và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Điều lệ tổ chức xã hội Bắc Ninh phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành.

III. Hoạt Động Hiệp Hội Ngành Nghề Bắc Ninh Giai Đoạn 1997 2017

Giai đoạn 1997-2017 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các hiệp hội ngành nghề Bắc Ninh. Các tổ chức này đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, và y tế. Hoạt động của các hiệp hội ngành nghề ngày càng đa dạng và chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu của hội viên và yêu cầu của sự phát triển. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào phân tích các hoạt động chính của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong giai đoạn này.

3.1. Hoạt Động Tổ Chức Xã Hội trong Lĩnh Vực Kinh Tế

Trong lĩnh vực kinh tế, các tổ chức xã hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, xúc tiến thương mại, và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa là một ví dụ điển hình, đã có nhiều hoạt động thiết thực như tổ chức hội chợ triển lãm, đào tạo nguồn nhân lực, tư vấn pháp luật, và hỗ trợ tiếp cận vốn. Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội đã đóng góp đáng kể vào GDP của tỉnh.

3.2. Đóng Góp của Tổ Chức Xã Hội trong Văn Hóa Giáo Dục

Các tổ chức xã hội cũng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, và y tế. Các tổ chức như Hội khuyến học, Hội văn học nghệ thuật, và Hội đông y đã có nhiều hoạt động thiết thực như trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, và khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Anh, những hoạt động này đã góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân và thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và y tế.

IV. Đánh Giá Vai Trò Tổ Chức Xã Hội Nghề Nghiệp Bắc Ninh

Việc đánh giá khách quan vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp Bắc Ninh là vô cùng quan trọng. Các tổ chức này đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội thông qua nhiều hoạt động. Bên cạnh những thành tựu, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn những hạn chế, khó khăn mà các tổ chức tự quản Bắc Ninh đang gặp phải, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động. Ảnh hưởng của tổ chức xã hội tới cộng đồng là không thể phủ nhận.

4.1. Ưu Điểm và Thành Tựu của Tổ Chức Xã Hội Bắc Ninh

Các tổ chức xã hội ở Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong giai đoạn 1997-2017. Các tổ chức này đã thể hiện rõ vai trò tư vấn, đề xuất về chính sách, pháp luật phù hợp với lĩnh vực chuyên môn nhằm hoàn thiện hơn nữa về văn bản dành cho doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường. Hoạt động hiệu quả của các tổ chức xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh, nâng cao đời sống của nhân dân, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các đối tác trong và ngoài nước.

4.2. Hạn Chế và Thách Thức đối với Tổ Chức Xã Hội

Bên cạnh những thành tựu, các tổ chức xã hội ở Bắc Ninh cũng còn gặp phải một số hạn chế và thách thức. Cụ thể theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh, một số vấn đề còn tồn tại như: Cơ chế quản lý, điều hành còn nhiều bất cập; Nguồn lực tài chính còn hạn chế; Trình độ chuyên môn của cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu; Sự phối hợp giữa các tổ chức xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa chặt chẽ.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Xã Hội Bắc Ninh

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Bắc Ninh trong thời gian tới, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này cần tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường nguồn lực tài chính, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ, và tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ giúp các tổ chức xã hội phát huy tối đa vai trò của mình trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

5.1. Hoàn Thiện Quy Định về Tổ Chức Xã Hội Nghề Nghiệp

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, quy định về tổ chức xã hội nghề nghiệp, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức xã hội. Các quy định cần rõ ràng, minh bạch, và phù hợp với thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội chủ động, sáng tạo trong hoạt động của mình.

5.2. Tăng Cường Nguồn Lực Tài Chính cho Tổ Chức Xã Hội

Nguồn lực tài chính là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động hiệu quả của các tổ chức xã hội. Cần có các giải pháp để tăng cường nguồn lực tài chính cho các tổ chức xã hội, như khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ; Xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển tổ chức xã hội; Và tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội tham gia các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

VI. Triển Vọng Phát Triển Tổ Chức Xã Hội Bắc Ninh Tương Lai

Với tiềm năng và lợi thế của mình, Bắc Ninh có nhiều cơ hội để phát triển các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tương lai. Sự phát triển của các tổ chức xã hội sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, và thịnh vượng. Cần có những chính sách, giải pháp phù hợp để khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế này, tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội phát triển bền vững và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển của tỉnh.

6.1. Phát Triển Kinh Tế Xã Hội và Vai Trò Tổ Chức Xã Hội

Sự phát triển kinh tế xã hội của Bắc Ninh trong tương lai sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mới cho các tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội cần chủ động đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh. Đồng thời, các tổ chức xã hội cần tăng cường sự hợp tác, liên kết, và phối hợp với nhau để tạo ra sức mạnh tổng hợp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của hội viên và cộng đồng.

6.2. Xã Hội Dân Sự Bắc Ninh Cơ Hội và Thách Thức

Xã hội dân sự Bắc Ninh đang dần hình thành và phát triển, tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, xã hội dân sự cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, và sự tham gia của cộng đồng. Các tổ chức xã hội cần nỗ lực để đáp ứng những yêu cầu này, xây dựng uy tín và niềm tin trong cộng đồng.

24/05/2025
Luận văn thạc sĩ các tổ chức xã hội nghề nghiệp tỉnh bắc ninh 1997 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC NINH VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP TRƯỚC NĂM 1997 1. Khái quát về tỉnh Bắc Ninh 1. Điều kiện tự nhiên Bắc Ninh là tỉnh nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. So với các tỉnh thành trong cả nước, Bắc Ninh có diện tích nhỏ 823 km2.

Nhìn trên bản đồ, phạm vi của tỉnh Bắc Ninh thuộc tọa độ từ 200 58’B đến 210 16’ vĩ độ bắc và từ 1050 54’Đ đến 106o19’Đ kinh độ đông. Các tỉnh giáp gianh với Bắc Ninh gồm có: phía Bắc là tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương, phía Nam liền kề với tỉnh Hưng Yên, phía Tây nối liền với thành phố Hà Nội. Hiện nay, Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện (Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài). Khí hậu của tỉnh Bắc Ninh thuộc dạng cận nhiệt đới ẩm.

Một năm có 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Do sự chênh lệch về nhiệt độ giữa mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh nên hiện tượng mưa kéo dài diễn ra hàng năm. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm [45]. Là một tỉnh thuộc đồng bằng nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình.

Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn. Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện: Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 0,53% so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, “các đỉnh núi cao phổ biến từ 60 - 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao khoảng 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao khoảng hơn 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao khoảng 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao khoảng 71m”[45]. 8 Chảy qua vùng đất Bắc Ninh có các con sông lớn như sông Đuống, sông Cầu sông Thái Bình.

Dòng chảy cùng với các nhánh chi lưu của nó đã tạo thuận lợi cho công tác tưới tiêu trong nông nghiệp.Hàng năm, sau mùa mưa lũ đồng bằng được bồi đắp bởi lượng lớn đất phù sa màu mỡ. Như vậy, với địa hình và khí hậu nóng ẩm nên từ rất sớm ở Bắc Ninh có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp. Bắc Ninh không phải là tỉnh có thế mạnh về tài nguyên khoáng sản. Ở tỉnh chỉ khai thác và sản xuất một số nguyên vật liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp.

Có thể kể đến việc khai thác đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh; đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60. Bắc Ninh ở vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ và đường không. Các tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1A, 1B, quốc lộ 18, quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, Hà Nội- Quảng Ninh nối liền Bắc Ninh với các trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại của khu vực phía Bắc Việt Nam, với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và liên thông với hệ thống các trục đường quốc lộ đến với mọi miền trong cả nước.

Chính vì vậy, Bắc Ninh rất thuận lợi trong giao lưu và phát triển nội thương cũng như khả năng xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới. Với những nhân tố thuận lợi trên, Bắc Ninh trở thành thành phố vệ tinh quan trọng cho Hà Nội và là một điểm nhấn trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Nơi đây, vừa là thị trường tiêu thụ, vừa là khu vực cung cấp nguồn nhân lực, sản phẩm nông sản, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ… cho các tỉnh thành trong vùng đồng bằng Sông Hồng và các vùng lân cận. Cùng với việc khai thác lợi thế của các làng nghề thủ công truyền thống, Bắc Ninh đang có nhiều chính sách thu hút đầu tư, mở rộng về quy mô sản xuất, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm tạo thành các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, trong nước và xuất khẩu.

Song song với việc phát triển công nghiệp, Bắc Ninh cũng chú trọng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng 9 chuyên canh. Tỉnh đang từng bước đưa chăn nuôi trở thành một ngành chính tạo nguồn nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại hóa. Vài nét về kinh tế tỉnh Bắc Ninh Bắc Ninh - miền đất trù phú tiềm ẩn nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Ở Bắc Ninh, trước năm 1997 tỉ lệ kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt chú trọng tăng cường đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là mục tiêu toàn tỉnh hướng tới. Dựa trên nguồn tài liệu Niên giám thống kê lưu trữ của tỉnh Bắc Ninh, tôi đã lập bảng thống kê sau: Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế Bắc Ninh (1997 - 2017) Năm Công nghiệp - xây dựng Nông nghiệp Dịch vụ 1997 23,8% 45,1% 31,1% 2010 64,8% 11% 24,2% 2017 75,2% 3% 21,8% [Nguồn: 45] So sánh các số liệu thống kê trong bảng 1.về cơ cấu kinh tế Bắc Ninh, chúng ta nhận thấy trong 20 năm tỉ trọng % giữa các lĩnh vực kinh tế công nghiệp, kinh tế nông nghiệp và kinh tế dịch vụ có sự thay đổi rõ rệt. Rõ ràng, Bắc Ninh bước đầu thành công trong quá trình chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bắc Ninh được tái lập năm 1997, nhưng Bắc Ninh đã đạt được những bước tiến khả quan trên.

Trước hết, là do Tỉnh ủy Bắc Ninh đã vận dụng linh hoạt chỉ đạo phát triển kinh tế của Chính phủ, triển khai sáng tạo, thích ứng với điều kiện thực tiễn của Bắc Ninh. Để phát triển công nghiệp, Bắc Ninh lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn FDI theo định hướng sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai; Đẩy mạnh công nghiệp phụ trợ; Tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, xử lí rác thải; Chú trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công nghệ thông tin, viễn thông…. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy Bắc 10 Ninh chú ý đến thực hiện các cơ chế chính sách ưu tiên, ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực mũi nhọn của tỉnh; Đa dạng hóa các hình thức đầu tư…ngoài ra, tỉnh tăng cường quản lí đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối hoạt động của các nhà đầu tư trên địa bàn. Vì vậy, tỉnh kịp thời có biện pháp giải quyết tình huống linh hoạt, phát huy có hiệu quả và kết hợp hài hòa giữa nguồn lực trong và ngoài tỉnh, đây là những nhân tố thúc đẩy nhanh tiến trình tăng trưởng kinh tế.

Năm 2017, trong công tác tổng kết cuối năm, những kết quả tỉnh Bắc Ninh đạt được như sau: Quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, vị thế của Bắc Ninh ngày càng nâng cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng sản phẩm (GRDP) năm 2017 chiếm 3,11% GDP, xếp thứ 4 trên 63 tỉnh, thành phố trong nước; tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 19. Bắc Ninh là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất Việt Nam [45]. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 1.049 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành) [45].

Nếu xếp thứ hạng, Bắc Ninh có giá trị sản xuất công nghiệp đứng thứ 2 trong nước, sau thành phố Hồ Chí Minh. Công tác thu hút đầu tư được đẩy mạnh với cơ chế, giải pháp thông thoáng. Năm 2017, Bắc Ninh có160 dự án FDI mới và điều chỉnh tăng vốn cho 115 dự án với tổng vốn đăng ký sau điều chỉnh đạt 3,5 tỷ USD [45]. Hoạt động ngoại thương tạo kỳ tích mới với kim ngạch xuất khẩu lần đầu tiên cán mốc gần 30 tỷ USD, chiếm 14,9% xuất khẩu cả nước.

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 29,85 tỷ USD, vượt 47,5% kế hoạch đề ra và tăng 59,5% và giữ vững vị trí thứ 2 toàn quốc. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước 21.597,7 tỷ đồng, đạt 131,5% dự toán năm, tăng 20,1% so với năm 2016 (tương ứng tăng 3.585 tỷ đồng); trong đó thu nội địa là 16.137 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX đề ra (đến năm 2020, thu nội địa đạt 14. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm, sản xuất còn gặp nhiều khó khăn nhưng năng xuất, sản lượng cây trồng tăng đáng kể: Năng suất lúa ước đạt 60 tạ/ha; 11 sản lượng lương thực có hạt ước đạt 60 tấn; giá trị trồng trọt ước đạt 73,9 triệu đồng/ha năm 2010. Cơ cấu cây trồng gắn với luân canh hợp lý, nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho thu nhập gần 200 triệu đồng/ha như: lúa, khoai tây, rau xanh, hoa, cây cảnh… Quan hệ sản xuất ở nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu xuất hiện mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, doanh nghiệp nông nghiệp, kinh tế trang trại.

Việc chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa tăng nhanh, dịch vụ nông nghiệp phát triển, “dồn điền đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng vùng sản xuất được coi trọng, chăn nuôi bước đầu chuyển sang chăn nuôi tập trung. Hình thành mô hình chuỗi giá trị trong nông nghiệp với tổ hợp sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, tạo liên kết doanh nghiệp hỗ trợ nông dân sản xuất, tiêu thụ hàng hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu "Nghiên Cứu Các Tổ Chức Xã Hội - Nghề Nghiệp Tỉnh Bắc Ninh (1997 - 2017)" đi sâu vào phân tích sự hình thành, phát triển và vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 1997-2017. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các tổ chức này đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời chỉ ra những thách thức và cơ hội mà họ phải đối mặt. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cấu trúc, chức năng và tác động của các tổ chức này đối với cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương.

Để hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế - xã hội rộng lớn hơn của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyển biến kinh tế xã hội huyện tiên du tỉnh bắc ninh từ năm 1999 đến năm 2013. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về những thay đổi kinh tế và xã hội đã diễn ra tại một huyện cụ thể của tỉnh, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về bức tranh toàn cảnh.