Chương 1: Cơ sở lý luận, quan điểm và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội – nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Chương 3: Nghiên cứu biến động cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Kết luận và kiến nghị 4 GVHD: GS.TSKH Phạm Hoàng Hải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nguyễn Thị Duyên Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường - Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Nhu cầu thực tiễn Mục tiêu nhiệm vụ - Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 1 2 Cơ sở lý luận nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên biến động cảnh quan cứu 3 Cơ sở dữ liệu Tài liệu tham khảo 4 Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan Bản đồ cảnh quan Phân tích, phân loại cảnh quan 5 Nguyên nhân biến động cảnh Biến quan động cảnh quan Thực trạng biến động cảnh quan 6 7 Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng hợp lý cảnh quan kiến nghị Hình 1: Sơ đồ các bước thực hiện luận văn 5 GVHD: GS.TSKH Phạm Hoàng Hải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nguyễn Thị Duyên Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu trong và ngoài nƣớc về vấn đề có liên quan 1.
Thế giới Các giai đoạn ra đời và phát triển của cảnh quan trên thế giới như sau: a. Giai đoạn từ năm 1939 đến 1980 Năm 1939 nhà địa lý sinh vật người Đức Carl Troll là người đầu tiên đề xuất thuật ngữ “sinh thái cảnh quan” (landscape ecology). Trên quan điểm hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935), những công trình nghiên cứu địa lý vùng và địa thực vật bằng ảnh hàng không, Troll nhìn nhận STCQ là một hướng tiếp cận tổng hợp và liên ngành khi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên phức tạp. Năm 1963, định nghĩa STCQ được Troll đưa ra trong một báo cáo tại hội thảo “Quần xã thực vật và STCQ” tại Stolzenau-Weser (Đức).
Năm 1968, ông đã thay thế thuật ngữ sinh thái cảnh quan bằng thuật ngữ địa sinh thái (eco-geography). Trong giai đoạn này sinh thái cảnh quan ứng dụng được phát triển mạnh trong cộng đồng các nước nói tiếng Đức và Hà Lan, phục vụ quy hoạch cảnh quan tại Tây Đức (năm 1968), Hà Lan (1972), Áo và Ba Lan (1974). Đến năm 1975, Woebse công bố sổ tay hướng dẫn về STCQ dành cho kiến trúc sư với các tiêu chuẩn đánh giá khả năng duy trì chức năng, cấu trúc tự nhiên và cân bằng sinh thái của cảnh quan ở bản đồ tỷ lệ nhỏ (1:200.000) cho quy mô cấp vùng và tỷ lệ lớn (1:25.000) cho quy mô cấp địa phương b. Giai đoạn từ 1980 đến 1990 Hiệp hội Sinh thái Cảnh quan Quốc tế (IALE) ra đời và sự hình thành trường phái nghiên cứu STCQ Bắc Mỹ.
Tháng 10/1982, Hiệp hội STCQ Quốc tế (IALE -The International Association of Landscape Ecology) được thành lập tại Hội thảo quốc tế lần thứ VI ở Piestany (Tiệp Khắc cũ), là điểm mốc quan trọng minh chứng STCQ phát triển với tư cách là một khoa học liên ngành và có tầm ảnh hưởng quốc tế.TSKH Phạm Hoàng Hải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nguyễn Thị Duyên Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường Trong giai đoạn này những công trình công bố đặt nền móng cho STCQ lý thuyết ở Bắc Mỹ và Tây Âu: - Năm 1981 Forman và Godron đề xuất các khái niệm hình thái cảnh quan về mảnh (patch), hành lang (corridor), nền (matrix). - Năm 1982 Naveh công bố những luận điểm về lý thuyết STCQ, cách tiếp cận hệ thống và lần đầu tiên làm rõ vai trò của con người trong cảnh quan. - Năm 1983 Forman cho rằng STCQ thích hợp trong các ứng dụng tiên phong của thời đại.
- Về sau những tư tưởng này tiếp tục được phát triển thành những ấn phẩm tiêu biểu về STCQ lý thuyết và ứng dụng (Naveh và Lieberman, 1984, 1986, 1994; Forman và Godron, 1986; Turner, Gardner và O'Neill, 2002; Bastian và Steinhardt, 2002). Giai đoạn từ 1990 đến những năm đầu thế kỷ XXI - Là giai đoạn mà STCQ phát triển mạnh mẽ trên thế giới, được đánh dấu bằng sự kiện tái thành lập các chi hội IALE có truyền thống lâu đời của Châu Âu là Đức, Cộng hòa Séc và Slovakia; sự phát triển nổi bật của các trung tâm STCQ Đông Á, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi. Năm 1992 Chi hội IALE của Việt Nam được thành lập. Trung tâm STCQ lâu đời nhất trên thế giới chính là Tây Âu.
+ Tại Đức - đầu năm 1998, chi hội IALE của Đức mới chính thức được tái thiết lập. + Tại Pháp, nghiên cứu STCQ có định hướng sinh thái nhân văn, trong đó cảnh quan được coi là hệ thống sinh thái hình thành do tương tác tự nhiên - xã hội (Bertrand, 1975), là tổng hợp thể tự nhiên - kỹ thuật (Burel và Baudry, 1999). + Tại Anh, chương trình đào tạo STCQ đầu tiên do Trường Wye (Đại học London) soạn thảo được công nhận trong các nước nói tiếng Anh. + Tại Nga và Đông Âu, Tiệp Khắc (cũ) là trung tâm nghiên cứu STCQ truyền thống và có nhiều đóng góp tích cực nhất về hướng Tích hợp Quy hoạch STCQ (LANDEP) phục vụ ra quyết định sử dụng đất đai quy mô quốc gia (Ruzicka và Miklos, 1988).TSKH Phạm Hoàng Hải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nguyễn Thị Duyên Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường + Hiện nay, dựa trên cơ sở thừa kế nền khoa học Tiệp Khắc, STCQ của Cộng hòa Séc phát triển hướng nghiên cứu các khía cạnh kinh tế, xã hội, kỹ thuật và môi trường của cảnh quan. Trong khi đó, STCQ của Cộng hòa Slovakia quan tâm đến các ứng dụng đánh giá tác động môi trường (Ruzicka, 1996; Miklos, 1997; Kozovo, 2001), tiếp tục phát triển phương pháp LANDEP trong quản lý tài nguyên và quy hoạch lãnh thổ (Ruzicka, 2000, trong Chương trình nghị sự Agenda 21). + Ở Nga, STCQ nghiên cứu theo định hướng địa lý: nghiên cứu cấu trúc và chức năng của cảnh quan, quan hệ định lượng giữa các yếu tố trong cảnh quan (A. Khoroshev), sự phát triển của cảnh quan (Ixatrenko, Nikolaiev, Zhuchkova).
- Giai đoạn này cũng được đánh dấu bởi sự kiện STCQ phát triển từ Tây Âu về phía bắc tới Bắc Âu và về phía nam tới Đồng bằng Địa Trung Hải. Nghiên cứu STCQ ở Đan Mạch định hướng quy hoạch lãnh thổ ở quy mô lớn, đánh giá tác động môi trường, viễn thám ứng dụng. Hướng nghiên cứu kết hợp STCQ với khảo cổ học trong quản lý cảnh quan di sản khảo cổ rất phát triển ở Na Uy và Phần Lan, với việc xây dựng bản đồ lịch sử cho đánh giá cảnh quan di sản văn hóa bảo tồn (Domaas, Norderhaug, Timberlid, 2003). Trong khi đó, nghiên cứu xu thế phát triển và đánh giá sinh thái các cảnh quan Địa Trung Hải là hướng nghiên cứu STCQ chủ đạo ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia (Farina, 1993, 2005).
- Bắc Mỹ cùng với Tây Âu là hai trung tâm nghiên cứu STCQ lớn nhất trên thế giới với bốn hướng nghiên cứu chính: (i) ảnh hưởng của cấu trúc không gian tới quá trình sinh thái; (ii) động lực học cảnh quan; (iii) ngưỡng và yếu tố phi tuyến; (iv) quy hoạch, quản lý và phục hồi cảnh quan. Nghiên cứu STCQ ở Canada có sự hợp tác chặt chẽ giữa các nhà quy hoạch và quản lý đất đai với các nhà sinh thái học và các nhà địa lý. Tại Hoa Kỳ, phát triển theo hướng định lượng hóa không gian, nghiên cứu cảnh quan văn hóa, mở rộng các khái niệm và phương pháp luận của sinh học - sinh thái học. Turner (2005) sử dụng mô hình thống kê các công trình công bố ở Bắc Mỹ 8 GVHD: GS.TSKH Phạm Hoàng Hải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nguyễn Thị Duyên Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường từ 1982-2003, đã định lượng xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn của STCQ so với sinh thái học và cảnh quan học thuần túy. - Ở Nam Mỹ STCQ phát triển tương đối muộn và tập trung vào lĩnh vực bảo tồn các hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp và đô thị; ứng dụng STCQ trong quy hoạch, bảo tồn cấp loài và hệ sinh thái, nghiên cứu cấu trúc cảnh quan. Hội nghị STCQ Quốc tế ở Nam Mỹ được tổ chức lần đầu tiên tại Buenos Aires (Argentina, tháng 11/2005) với sự hợp tác của Brazil, Colombia, Venezuela, Chile, Bolivia. Hoạt động của Hội STCQ Châu Phi (Africa-IALE) góp phần tạo nên một trung tâm STCQ Châu Phi thống nhất và cộng tác giữa nhà nghiên cứu với nhà quản lý quan tâm nhiều nhất đến việc giảm thiểu suy thoái tài nguyên hiện đang xảy ra phổ biến ở lục địa này.
Các hướng nghiên cứu cấu trúc cảnh quan, chức năng sinh thái và động lực cảnh quan ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích những cảnh quan nhiệt đới phức tạp, những hệ quả sinh thái xuất hiện do các hoạt động khai thác tài nguyên. Hầu hết các nghiên cứu STCQ đều nằm trong dự án hợp tác giữa các nhà quản lý Châu Phi với đối tác nghiên cứu ở các nước phát triển. Tại Đông Á có những hoạt động tích cực của Hội STCQ Trung Quốc (CALE) và Hội Sinh thái Nhật Bản ngay từ giai đoạn thành lập IALE (1982). Tại Việt Nam - Trước năm 1992, lý luận CQH nước ta về cơ bản theo trường phái Nga (Xô Viết cũ).
Các nhà CQH Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Mỗi giai đoạn phát triển, các công trình có tên gọi khác nhau: phân vùng ĐLTN, phân vùng CQ, CQ địa lý, đặc điểm CQ, CQ sinh thái, nghiên cứu đa dạng CQ, ĐGCQ, phân tích CQ, phân vùng CQ, nghiên cứu, đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN…. + Năm 1976 Vũ Tự Lập nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam theo quan điểm cá thể. + Quan điểm kiểu loại cũng được các nhà địa lý thuộc Viện Địa lý và Đại học Quốc gia Hà Nội áp dụng xây dựng bản đồ cảnh quan ở nhiều tỷ lệ (Nguyễn 9 GVHD: GS.TSKH Phạm Hoàng Hải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nguyễn Thị Duyên Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường Thành Long, 1993; Nguyễn Cao Huần, 1991, 2002, 2003; Phạm Quang Anh, 1985, 1996, 2001; Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, 1993, 1997, 2002). + Đến năm 1992 những nghiên cứu cảnh quan đã tạo cho các nhà cảnh quan học Việt Nam kinh nghiệm nghiên cứu tổng hợp và liên ngành tại nhiều vùng lãnh thổ.