ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay nhu cầu khai thác và sử dụng các loại dược liệu có nguồn gốc từ thực vật ngày càng tăng cao. Do đó, vấn đề trồng và phát triển các loài cây dược liệu quý, bản địa được nước ta đặc biệt quan tâm trong những năm gần đây. Tam thất gừng (tên khoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep.) hay Khương tam thất, phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, phía Nam Trung Quốc và Ấn Độ (có độ cao từ 1200 - 1500m) là một loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) mang những đặc điểm chung của họ Gừng đồng thời, Tam thất gừng còn có những đặc điểm riêng biệt: Cây có nhiều củ nhỏ đường kính từ 1-1,5cm xếp thành chuỗi, có rễ con dạng sợi, lá mọc rời từ 3 - 5 cái, phiến lá thuôn dài, chóp nhọn, màu lục, pha nâu hay nâu tím. Ở trên thế giới, hiện có rất ít công trình nghiên cứu về loài Tam thất gừng.
Các nghiên cứu mới chỉ tập trung mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái cũng như phân bố của loài. Việc nghiên cứu bảo tồn nhân giống, kỹ thuật trồng thâm canh là khoảng trống rất lớn chưa được thực hiện. Ở Việt Nam đã có một số tài liệu và công trình nghiên cứu về hình thái, sinh thái, phân bố cũng như kinh nghiệm nhân giống và gây trồng cây Tam thất gừng, bước đầu đánh giá thành phần dược liệu. Đây là những tiền đề quan trọng cho việc phát triển loài cây dược liệu quý này.
Với ưu điểm có biên độ sinh thái rộng, dễ nhân giống và gây trồng, chăm sóc trên nhiều loại đất khác nhau có t nh chất ẩm, đất tốt. Thị trường dược liệu hiện nay rất rộng mở, giá thành tốt (hiện giao động 400 - 700 nghìn kg khô). Cây có thể được trồng tận dụng trong vườn hộ, đất nương rẫy, dưới tán cây ăn quả,… nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế cho người dân ở nông thôn, miền núi ở Việt Nam. 2 Ba Vì là một huyện miền núi thuộc thành phố Hà Nội.
Đời sống của người dân còn nhiều khó khăn. Mặc dù quỹ đất lâm nghiệp là tương đối lớn nhưng cùng với sự phát triển của dân số cũng như sự chuyển đổi mục đ ch sử dụng đất đai nên quỹ đất sản xuất ngày bị thu hẹp. Việc tìm ra cơ cấu loài cây trồng phù hợp để phát triển sinh kế cho người dân đang là vấn đề nhức nhối đối với địa phương. Diện t ch đồi núi hiện nay vẫn chỉ sử dụng để phát triển một số loài cây trồng truyền thống như Sắn, cây ăn quả,… mang lại hiệu quả kinh tế không cao.
Các gia đình đều có diện t ch vườn hộ tương đối rộng chủ yếu là vườn tạp, ít mang lại giá trị kinh tế. Mặc dù người dân trên địa bàn huyện có nhiều kinh nghiệm truyền thống trong việc khai thác và sử dụng các bài thuốc Y học cổ truyền, đặc biệt là cộng đồng người dao ở xã Ba Vì nhưng tới nay vẫn chưa được phát triển tốt do thiếu nguồn nguyên liệu làm thuốc cũng như thiếu các hiểu biết về kỹ thuật bảo tồn và trồng thâm canh cây dược liệu theo quy mô hàng hóa. Cây Tam thất gừng được coi là một trong những loại dược liệu hay được sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền của người Dao nhưng hiện nay nguồn nguyên liệu chính vẫn được khai thác từ từ nhiên và mới chỉ có một số ít hộ gia đình trồng quy mô nhỏ ở vườn hộ để phục vụ sử dụng tại chỗ. Xuất phát từ những tồn tại trên, đề tài Ng i n c u ảo tồn chuyển chỗ o i am t t g ng Stahlianthus thorelii Gagnep.
t i v ng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì” được đặt ra là rất cần thiết. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng các loại dược liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên càng tăng cao. Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới WHO thì có khoảng 25% các loại thuốc được sử dụng hiện nay trên thế giới có nguồn gốc từ thực vật và có khoảng 121 hợp chất có hoạt t nh đang được sử dụng.
Trong tổng số 252 loại thuốc thiết yếu mà WHO đã liệt kê thì có tới 11% có nguồn gốc từ thực vật. Gần như 80% dân số Châu Phi và Châu Á phụ thuộc vào các loại thuốc cổ truyền để chăm sóc sức khỏe (Viện dược liệu, 2016) [21]. Tam thất gừng có tên khoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep. thuộc họ Gừng Zingiberaceae.
Mặc dù thuộc họ hoàn toàn khác biệt trong hệ thống phân loại thực vật với các loài Tam thất bắc, Tam thất hoang thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) nhưng loài Stahlianthus thorelii Gagnep. vẫn được mang tên gọi Tam thất gừng hay Tam thất nam là bởi nó có nhiều tác dụng dược liệu tương tự. Tên gọi Tam thất nam là để phân biệt về địa lý so với loài Tam thất bắc có xuất xứ từ Trung Quốc. Đây là một loài cây dược liệu quý sẵn có ở Việt Nam nhưng lại chưa được chú trọng phát triển đúng mức do thiếu các thông tin về kỹ thuật nhân giống và biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu ở trên thế giới và trong nước có liên quan tới loài Tam thất gừng.Đán giá tổng quan tìn ìn ng i n c u 1. ình hình nghiên ứ ngoài nướ Ở Trung Quốc, Tam thất gừng còn có tên gọi khác là Khương tam thất có tên khoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep., thuộc họ Gừng 4 Zingiberaceae. Theo tác giả Ohwi Jisaburo (Nhật Bản) tổng kết họ Gừng có 47 chi với khoảng 1400 loài chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới và rải rác ở vùng ôn đới. Riêng Nhật Bản, chi Gừng chỉ có 2 loài, chi Riềng có 4 loài, ở Trung Quốc chi Riềng có 46 loài khác nhau (flora.
Trong cuốn sách “Các loài họ Gừng ở Trung Quốc” tại Vườn thực vật ở Hoa Nam (Trung Quốc) đã mô tả về đặc điểm hình thái và có ảnh của 111 loài trong họ Gừng trong đó đã mô tả được loài Stahlianthus sp. có phân bố ở Quảng Đông, Quảng Tây, Ấn Độ, Mianma và Thái Lan và nêu rõ thân củ của loài này có thể sử dụng để là thuốc. [24] Tam thất gừng là cây thân thảo, thân giả kh sinh, có thân rễ dày bao bởi những vết của lá đã rụng thường phân nhánh mang nhiều củ nhỏ bằng quả trứng chim xếp thành chuỗi, có rễ con dạng sợi. Lá mọc rời, 3-5 cái, có cuống dài, xuất hiện sau khi cây ra hoa.
Phiến lá thuôn dài, chóp nhọn, màu lục, lục pha nâu hay nâu t m, mép nguyên, lượn sóng. Cụm hoa ở gốc, nằm ở bên lá; cuống hoa dài 6-8cm, ở ph a cuối có một lá bắc hình ống, bao lấy hoa. Hoa 4-5 cái, có lá bắc và lá bắc con dạng màng. Tràng hoa màu trắng, họng vàng.
Bầu nhẵn, chia 3 ô (Lamphay Inthakoun, Claudio O. Cây có phân bố chủ yếu ở 3 nước là Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Thường thấy cây phân bố ở những nơi đất ẩm, tốt, phát triển trên đá Sa thạch. Cây thường ra hoa vào tháng 4 đến tháng 5 hàng năm nhưng t khi phát hiện thấy có quả và hạt (J.
Theo các tài liệu Trung Quốc thì củ Tam thất gừng có vị cay, tính hàn, có tác dụng làm tan máu bầm, giảm sưng đau, dùng để chữa trị thổ huyết, kinh nguyệt không đều,… Thị trường dược liệu ở Trung Quốc rất sôi động, vị thuốc Tam thất gừng được sử dụng phổ biến trong nhiều bài thuốc của 5 Đông y. Mỗi năm ước t nh thị trường nội địa tiêu thụ hàng trăm tấn củ Tam thất gừng. Như vậy, có thể thấy rằng hiện có rất t các công trình nghiên cứu trên thế giới được thực hiện về loài Tam thất gừng. Một số nghiên cứu mới chỉ tập trung mô tả về phân loại thực vật, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái cũng như công dụng của loài.
Hầu như t có các nghiên cứu về kỹ thuật bảo tồn, chọn, tạo giống cũng như trồng thâm canh đối với loài cây này. Đây là một khoảng trống rất lớn cần được quan tâm nghiên cứu trong các công trình tiếp theo. ình hình nghiên ứ t ong nướ - Tên gọi, phân loại: Tam thất gừng có tên khoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep., thuộc họ Gừng Zingiberaceae. Cây còn có tên gọi khác là Khương tam thất hay Tam thất nam [5].
Họ Gừng có nhiều chi và nhiều loài khác nhau, số lượng các chi và loài còn chưa có sự thống nhất giữa các tác giả nghiên cứu, cụ thể: Theo tác giả Lê Khả Kế, Vũ Văn Chuyên cùng cộng sự (1969 - 1976) họ Gừng có 45 chi, trên 800 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới hai bán cầu. Riêng ở Việt Nam có 8 chi gồm 25 loài khác nhau, phân bố rải rác từ Bắc đến Nam [12]. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) đã tổng kết họ Gừng có 45 chi gồm 1300 loài phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, chủ yếu ở Nam và Đông Nam Á. Ở nước ta hiện biết 12 chi và 61 loài [6].
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000) ở Việt Nam họ Gừng có 24 chi với hơn 115 loài khác nhau [10]. 6 Chi Stahlianthus là một chi nhỏ, ở Việt Nam có 2 loài: đó là Stahlianthus campanulatus Okuntze (Tà liền chuông) và Stahlianthus thorelli Gagnep. (Tam thất gừng) hay còn gọi là Tà liền Thorel. - Mô tả đặc điểm hình thái: Theo các tác giả Võ Văn Chi (1997) [5], Lê Trần Đức (1997) [8] thì đặc điểm hình thái của loài Tam thất gừng được mô tả như sau: Tam thất gừng là cây thảo không có thân, thân rễ cao 15-20cm.
Thân rễ to, nạc, nằm ngang, chứa nhiều chất dự trữ, có khi rất ngắn hoặc chỉ mang hoa. Thân được tạo thành do các bẹ lá ôm chặt lấy nhau thành thân giả không phân nhánh. Thân rễ mang nhiều củ nhỏ bằng quả trứng chim xếp thành chuỗi, có rễ con dạng sợi. Củ rễ hình tròn thuôn một đầu, mặt ngoài của củ có vằn ngang màu đen, trong có chất bột trắng ngà như màu củ tam thất.
Lá cây Tam thất gừng là lá đơn, mọc cách từ 3 - 5 cái. Lá xếp thành 2 hàng thường hướng lên trên, đôi khi nằm ngang gần như song song với mặt đất. Bẹ lá mở đến gốc, phần dưới bẹ lá thường ôm chặt lấy nhau tạo thành thân giả. Cuống lá dài, có khi dài tới 25cm, hình lòng máng sâu.
Phiến lá nguyên thân dài, hình mác.