Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông thuộc tỉnh Thanh Hóa sở hữu tổng diện tích tự nhiên 17.639,78 ha với tỷ lệ che phủ rừng đạt tới 97,11%, đóng vai trò là một trong những cảnh quan núi đá vôi đất thấp có giá trị đa dạng sinh học cao nhất miền Bắc. Trong hệ sinh thái này, quần thể Thông pà cò (Pinus kwangtungensis Chun ex Tsiang) thuộc họ Thông (Pinaceae) và Thông đỏ bắc (Taxus chinensis (Pilg.) Rehder) thuộc họ Thông đỏ (Taxaceae) là hai nguồn gen thực vật hạt trần cực kỳ quý hiếm, có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới IUCN. Thông đỏ bắc là nguồn cung cấp hoạt chất Paclitaxel phục vụ điều trị ung thư với giá trị kinh tế rất cao, trong khi Thông pà cò sở hữu chất gỗ thượng hạng, vân đẹp, kháng mối mọt và mang giá trị cảnh quan phòng hộ đặc biệt.

Tuy nhiên, dưới tác động của điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt trên núi đá vôi cùng áp lực sinh kế từ cộng đồng cư dân sinh sống tại 9 xã thuộc hai huyện Quan Hóa và Bá Thước, môi trường sống của hai loài này đang bị thu hẹp đáng kể. Quần thể bị chia cắt cục bộ và khả năng tái sinh tự nhiên trong các hốc đá diễn ra rất hạn chế. Trước thực trạng đó, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng do học viên Đoàn Văn Công thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Hoàng Văn Sâm và Tiến sĩ Vương Duy Hưng tại Trường Đại học Lâm nghiệp đã tập trung giải quyết bài toán cấp bách về bảo tồn nguồn gen.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định toàn diện các đặc tính lâm học, vật hậu học, phân bố sinh thái, cấu trúc tổ thành quần xã và khả năng tái sinh tự nhiên của Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại Pù Luông; từ đó thiết lập hệ thống giải pháp lâm sinh, quản lý và sinh kế bền vững. Nghiên cứu được triển khai thực địa liên tục từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017 trên toàn bộ 36 tiểu khu rừng, mang lại cơ sở dữ liệu định lượng quan trọng cho công tác quy hoạch bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể nhằm phân tích sâu chu kỳ sống, mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật với hoàn cảnh môi trường và cấu trúc quần xã thực vật. Đồng thời, các lý thuyết về cấu trúc tầng thứ rừng nhiệt đới của Richards cùng luận điểm về tái sinh vệt và tái sinh phân tán của Van Steenis được áp dụng triệt để để giải mã quy luật sinh trưởng của các loài thực vật hạt trần trên địa hình karst.

Để mô tả chính xác vai trò sinh thái của từng loài cây trong lâm phần, nghiên cứu sử dụng hệ thống các khái niệm chuyên ngành then chốt:

  • Chỉ số giá trị quan trọng (Important Value Index - IV%): Tỷ lệ phản ánh tầm quan trọng sinh thái học của loài, tính toán từ trung bình cộng của tỷ lệ phần trăm số cây và tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang. Theo quan điểm sinh thái của Thái Văn Trừng, những loài có IV% từ 5% trở lên giữ vị trí ưu thế sinh thái cốt lõi trong quần xã.
  • Vật hậu học thực vật rừng: Khoa học nghiên cứu chu kỳ sinh trưởng theo mùa của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản như ra chồi, thay lá, thụ phấn, ra nón và chín hạt.
  • Tầng cây tái sinh và cây triển vọng: Thế hệ cây con dưới tán rừng có thân thẳng, sinh trưởng khỏe mạnh, không bị cụt ngọn hay sâu bệnh, đại diện cho tiềm năng phục hồi lâm phần.
  • Độ tàn che và độ che phủ: Tỷ lệ diện tích mặt đất được tán cây che phủ, ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ ánh sáng và độ ẩm của thảm tươi.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp chặt chẽ giữa kế thừa tài liệu, điều tra phỏng vấn người dân địa phương và khảo sát ngoại nghiệp chi tiết:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Thiết lập 8 tuyến điều tra ngoại nghiệp cắt ngang qua 36 tiểu khu thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Trên mỗi tuyến, tiến hành quan sát và đo đếm các chỉ tiêu hình thái học, vật hậu học trên tối thiểu 30 cá thể cho mỗi loài đại diện ở các cấp kính và đai cao khác nhau.
  • Thiết lập ô tiêu chuẩn (OTC): Lập các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời có diện tích 500 m2 (kích thước 20 m x 25 m) tại các đai cao chênh lệch nhau 100 m hoặc ở các sinh cảnh khác nhau nơi có loài xuất hiện (tối thiểu 10 ô tiêu chuẩn cho mỗi loài). Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành đo đếm đường kính thân ngang ngực D1.3 bằng thước kẹp kính hai chiều, đo chiều cao vút ngọn Hvn và chiều cao dưới cành Hdc bằng thước đo cao chuyên dụng, đo đường kính tán Dt bằng thước dây.
  • Phương pháp ô dạng bản (ODB) và ô tròn 6 cây: Bố trí 5 ô dạng bản diện tích 25 m2 (5 m x 5 m) tại 4 góc và vị trí trung tâm của mỗi ô tiêu chuẩn để thống kê cây tái sinh theo 4 cấp chiều cao (dưới 0,5 m; 0,5 m đến 1 m; 1 m đến 2 m; trên 2 m), đồng thời đánh giá độ che phủ tầng cây bụi thảm tươi. Sử dụng phương pháp ô tròn 6 cây lấy cây nghiên cứu làm tâm để xác định tổ thành các loài cây lân cận có cự ly gần nhất.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp chỉ số IV% của Daniel Marmillod với việc phân tầng chiều cao và phương pháp ô tiêu chuẩn cố định đảm bảo phản ánh chính xác mối quan hệ tương hỗ giữa cây hạt trần với thảm thực vật xung quanh, hạn chế tối đa sai số định tính trong rừng nhiệt đới nhiều tầng tán. Timeline nghiên cứu kéo dài từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017 đảm bảo theo dõi trọn vẹn giai đoạn ra chồi, nảy lộc và chuyển tiếp mùa nón.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã cung cấp các chỉ số định lượng cụ thể về hình thái, vật hậu và phân bố sinh thái của hai loài thực vật hạt trần quý hiếm:

Thứ nhất, về loài Thông pà cò (Pinus kwangtungensis):

  • Cây gỗ nhỡ thường xanh, cá thể trưởng thành đạt đường kính ngang ngực bình quân 54,36 cm và chiều cao vút ngọn trung bình 18 m. Vỏ cây có màu nâu xám, nứt dọc sâu. Lá kim mọc 5 chiếc chụm ở đầu cành ngắn, chiều dài lá từ 3,3 đến 4,5 cm, mặt cắt ngang hình 3 cạnh có mép răng cưa mịn.
  • Về vật hậu học, loài ra nón cái đơn tính vào tháng 3 đến tháng 4, nón hình trứng màu xanh có đường kính từ 4 đến 5,5 cm với 22 đến 35 vảy; nón chín chuyển sang màu nâu xám vào tháng 9 đến tháng 10. Hạt hình bầu dục dài 1 đến 1,2 cm, rộng 0,5 đến 0,6 cm mang cánh mỏng dài khoảng 2 cm hỗ trợ phát tán nhờ gió.
  • Về phân bố sinh thái, Thông pà cò phân bố giới hạn tại các đỉnh núi đá vôi nguyên sinh ở độ cao từ 785 m đến 926 m, tập trung chủ yếu tại tiểu khu 265 và 270 thuộc địa bàn xã Cổ Lũng.

Thứ hai, về loài Thông đỏ bắc (Taxus chinensis):

  • Cây gỗ nhỡ cao tới 20 m, đường kính thân đạt từ 40 đến 50 cm. Lá mọc xoắn ốc xếp thành hai dãy phẳng, phiến lá hơi cong hình chữ S dài 2,5 đến 4 cm, rộng 2 đến 3 mm, thuôn nhọn hai đầu.
  • Quần thể phân bố tự nhiên trong trạng thái rừng rậm thường xanh cây lá rộng núi thấp trên đất đá bazan và đá vôi ở đai cao từ 850 m đến 1037 m (tiểu khu 269, 271 xã Thành Lâm và vùng giáp ranh).

Thứ ba, về cấu trúc thảm thực vật và mật độ tái sinh:

  • Diện tích rừng núi đá tại Pù Luông chiếm 9.920,03 ha, trong đó tỷ lệ rừng giàu và rừng trung bình chiếm trên 80% tổng diện tích khu bảo tồn, phản ánh chất lượng thảm thực vật nguyên sinh rất tốt.
  • Mặc dù tầng cây mẹ có cấu trúc vững chắc, mật độ tái sinh tự nhiên của cả hai loài lại ở mức rất thấp. Tỷ lệ cây con có chiều cao dưới 0,5 m chiếm hơn 70% tổng số cây tái sinh, tuy nhiên số lượng cá thể vượt qua cấp chiều cao 1 m đến 2 m giảm mạnh chỉ còn khoảng 10% đến 15%, cho thấy tỷ lệ đào thải sinh học trong giai đoạn cây non rất cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm mật độ và tái sinh kém của Thông pà cò và Thông đỏ bắc xuất phát từ sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đặc tính sinh học đặc thù của loài. Hệ sinh thái núi đá vôi tại Pù Luông có độ dốc trung bình trên 30 độ, nhiều vách đá dựng đứng trên 45 độ, đất phủ mỏng dạng Rendzina hoặc Leptosol chỉ tích tụ trong các khe hốc đá. Vào mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng bốc hơi cao kết hợp ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam gây thiếu nước nghiêm trọng, khiến hạt rơi xuống khó tiếp xúc với đất ẩm để nảy mầm hoặc cây mạ bị khô héo trước khi cắm rễ sâu vào kẽ đá.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Hoàng Văn Sâm về thực vật núi đá vôi miền Bắc và các công trình nghiên cứu chi Taxus tại Hoàng Liên Sơn, quần thể tại Pù Luông có tính cô lập địa lý cao hơn. Cấu trúc tổ thành rừng nơi có Thông pà cò và Thông đỏ bắc phân bố được minh họa trực quan thông qua biểu đồ mặt cắt đứng (profile diagram) 5 đến 6 tầng thẳng đứng. Trong đó, tầng vượt tán và tầng ưu thế tán (chiều cao từ 18 m đến 40 m) gồm các loài đi kèm như Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Dẻ (Quercus sp.), Cui lá to (Heritiera macrophylla), tạo độ tàn che dày đặc từ 0,7 đến 0,85. Độ tàn che cao hạn chế lượng ánh sáng xuống tầng đáy rừng, cản trở sự phát triển của cây con ưa sáng như Thông pà cò. Ngoài ra, việc thu hái lâm sản ngoài gỗ và áp lực chăn thả gia súc của cư dân vùng đệm cũng tác động tiêu cực đến lớp thảm tươi và cây mầm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ nhằm bảo tồn và phát triển bền vững hai loài cây quý hiếm:

  • Thực hiện bảo tồn chuyển chỗ và xây dựng vườn sưu tập nguồn gen: Thiết lập vườn ươm giống mẫu và vườn sưu tập thực vật hạt trần diện tích từ 2 đến 5 ha tại phân khu hành chính dịch vụ. Áp dụng kỹ thuật giâm cành có xử lý thuốc kích thích sinh trưởng đối với Thông đỏ bắc và gieo ươm hạt Thông pà cò có kiểm soát độ ẩm và ánh sáng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sống cây giống lên trên 85% trong giai đoạn 2018 - 2022. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Trường Đại học Lâm nghiệp.
  • Ứng dụng công nghệ GIS và tuần tra định vị bảo vệ nguyên vị: Xây dựng bản đồ số hóa vùng phân bố trọng điểm của hai loài tại các tiểu khu 265, 270, 271 bằng phần mềm MapInfo. Trang bị thiết bị GPS cầm tay cho lực lượng kiểm lâm và tổ chức tuần tra định kỳ 2 lần/tháng tại các đai cao trên 800 m, quyết tâm ngăn chặn 100% các hành vi chặt hạ cây lấy gỗ hoặc bóc vỏ chiết xuất dược liệu trái phép trong vòng 24 tháng. Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm Pù Luông.
  • Nâng cao sinh kế và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng vùng đệm: Mở rộng chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các hộ đồng bào dân tộc Thái, Mường tại 9 xã xung quanh khu bảo tồn. Hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và trồng cây dược liệu dưới tán rừng nhằm nâng cao thu nhập bình quân của người dân địa phương thêm 20% đến 30% trong lộ trình 3 đến 5 năm, giảm áp lực khai thác rừng tự nhiên. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Bá Thước, huyện Quan Hóa phối hợp Ban quản lý Khu bảo tồn.
  • Tuyên truyền giáo dục môi trường và bảo tồn tri thức bản địa: Tổ chức các chương trình truyền thông học đường và hội thảo thôn bản định kỳ hàng quý về giá trị sinh thái của Thông pà cò và Thông đỏ bắc, phấn đấu đạt mục tiêu 95% người dân trong khu vực ký cam kết không vi phạm quy chế quản lý bảo vệ rừng. Chủ thể thực hiện: Đoàn Thanh niên và Phòng Giáo dục & Đào tạo các huyện phối hợp Khu bảo tồn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với 4 nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng đề án quản lý rừng bền vững, quy hoạch phân khu bảo tồn nghiêm ngặt đối với hệ sinh thái núi đá vôi và lập phương án phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô kiệt.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp: Là nguồn tư liệu chuẩn mực về phương pháp điều tra lâm học, kỹ thuật đo đếm vật hậu học thực vật hạt trần, cách thức xử lý dữ liệu sinh thái bằng phần mềm MapInfo và tính toán chỉ số quan trọng IV%.
  • Lực lượng Kiểm lâm và cán bộ hoạch định chính sách lâm nghiệp địa phương: Hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý tuần tra bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, phân bổ nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng và định hướng các mô hình phát triển sinh kế vùng đệm tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.
  • Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong nước và quốc tế (IUCN, WWF): Cung cấp số liệu thực địa cập nhật về hiện trạng quần thể hai loài hạt trần nguy cấp, làm căn cứ khoa học xây dựng các hồ sơ dự án tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn gen đặc hữu.

Câu hỏi thường gặp

Giá trị y dược và thương mại nổi bật của loài Thông đỏ bắc tại Pù Luông là gì?

Vỏ và lá của Thông đỏ bắc chứa hợp chất tự nhiên diterpenoid, tiền chất để chiết xuất hoạt chất Paclitaxel (Taxol) có hiệu quả điều trị cao đối với nhiều loại ung thư như ung thư vú, ung thư buồng trứng và phổi. Do giá thành hoạt chất trên thị trường quốc tế rất đắt đỏ và cây có tốc độ sinh trưởng chậm, Thông đỏ bắc trở thành nguồn tài nguyên dược liệu quý hiếm cần được quản lý nghiêm ngặt nhằm tránh nguy cơ bị khai thác triệt hạ.

Vì sao loài Thông pà cò chỉ phân bố giới hạn ở độ cao trên 780 m tại Pù Luông?

Thông pà cò là loài cây hạt trần ưa khí hậu mát mẻ, có khả năng chịu khô cằn và gió mạnh nhưng đòi hỏi độ ẩm không khí cao từ sương mù thường xuyên xuất hiện trên các đỉnh núi cao. Đai cao từ 785 m đến 926 m tại các tiểu khu 265 và 270 cung cấp điều kiện nền vi khí hậu và nền đá vôi nứt nẻ thích hợp nhất, nơi bộ rễ của cây có thể bám sâu vào các hốc đá để sinh trưởng mà ít bị cạnh tranh bởi các loài cây gỗ lá rộng phát triển nhanh ở vùng đất thấp.

Những rào cản tự nhiên nào cản trở quá trình tái sinh của Thông pà cò và Thông đỏ bắc?

Quá trình tái sinh tự nhiên gặp trở ngại lớn do cấu trúc địa hình karst hiểm trở, lớp đất mặt rất mỏng và mùa khô kéo dài khiến hạt khó nảy mầm. Thêm vào đó, độ tàn che của tầng cây cao trong rừng nguyên sinh đạt từ 0,7 đến 0,85 làm thiếu hụt ánh sáng cho cây mầm ưa sáng, dẫn đến tỷ lệ cây tái sinh vượt qua chiều cao 1 m chỉ đạt khoảng 10% đến 15%.

Phương pháp tính chỉ số quan trọng IV% của Daniel Marmillod có ý nghĩa gì trong nghiên cứu?

Chỉ số IV% tổng hợp đồng thời tỷ lệ phần trăm số cá thể và tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang của loài trong lâm phần. Phương pháp này giúp đánh giá chính xác vị thế và vai trò sinh thái thực sự của loài trong quần xã, loại trừ sự sai lệch khi một loài có số lượng cây con nhiều nhưng sinh khối nhỏ hoặc ngược lại, làm cơ sở khoa học xác định nhóm loài cây ưu thế theo tiêu chuẩn của Thái Văn Trừng.

Giải pháp kỹ thuật nào được ưu tiên để nhân rộng hai loài cây hạt trần này?

Biện pháp kỹ thuật ưu tiên hàng đầu là kết hợp bảo tồn nguyên vị với bảo tồn chuyển chỗ. Cần thu thập hạt giống Thông pà cò chín vào tháng 9 - 10 để gieo ươm trong điều kiện nhà lưới kiểm soát ẩm độ, đồng thời áp dụng công nghệ nhân giống sinh dưỡng bằng phương pháp giâm cành có sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho Thông đỏ bắc nhằm cung cấp cây con phục vụ công tác phục hồi rừng tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn đã mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái, vật hậu học của loài Thông pà cò (D1.3 trung bình 54,36 cm, chiều cao 18 m, ra nón tháng 3 - 4, chín tháng 9 - 10) và Thông đỏ bắc (cao tới 20 m, đường kính 40 - 50 cm) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.
  • Xác định chính xác quy luật phân bố sinh thái theo đai cao của Thông pà cò (từ 785 m đến 926 m trên núi đá vôi) và Thông đỏ bắc (từ 850 m đến 1037 m trong rừng rậm thường xanh cây lá rộng).
  • Làm rõ cấu trúc quần xã thực vật 5 đến 6 tầng tán và thực trạng tái sinh tự nhiên kém với tỷ lệ cây non vượt qua cấp chiều cao 1 m chỉ chiếm khoảng 10% đến 15%.
  • Nhận diện toàn diện các nhân tố tác động tiêu cực bao gồm hạn hán mùa khô, đất mặt mỏng và áp lực khai thác lâm sản từ cộng đồng dân cư sinh sống tại 9 xã vùng đệm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp bảo tồn đồng bộ kết hợp kỹ thuật lâm sinh, số hóa bản đồ GIS, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển sinh kế cộng đồng.

Về lộ trình tiếp theo, các đơn vị quản lý cần tiếp tục triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ nhân giống in vitro và thiết lập mô hình trồng thử nghiệm trong giai đoạn 3 đến 5 năm tới. Các nhà khoa học, nhà quản lý bảo tồn và độc giả quan tâm hãy ứng dụng ngay các phát hiện từ công trình nghiên cứu này vào thực tiễn quản lý rừng để chung tay bảo tồn bền vững nguồn gen thực vật hạt trần vô giá của Việt Nam.