Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi từ thực tiễn Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam", chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9 38 01 07), do nghiên cứu sinh Ngô Quang Huy thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Minh Đức và TS. Nguyễn Văn Tuyến.

Hoạt động kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế thị trường tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro như rủi ro lãi suất, tỷ giá, tín dụng, thanh khoản và rủi ro đạo đức. Chế định bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giữ vai trò công cụ tài chính bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và góp phần duy trì an toàn hệ thống ngân hàng. Tại Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) được thành lập năm 1999 và vận hành trên cơ sở Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành đã bộc lộ những bất cập, mâu thuẫn và chồng chéo; đặc biệt khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 có hiệu lực và Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 được triển khai, BHTGVN được giao thêm nhiều thẩm quyền mới nhưng khung pháp luật chuyên ngành về BHTG chưa được sửa đổi kịp thời để tương thích.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật BHTG, phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của BHTGVN, từ đó xác định yêu cầu, định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật cùng cơ chế thực thi của BHTGVN.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua ba nhóm nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHTG, cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ BHTG, đối chiếu pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài.
  2. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật BHTG tại BHTGVN trên các mặt nghiệp vụ (xác lập quan hệ, quản lý thu phí, kiểm tra, giám sát, chi trả, hỗ trợ tài chính, xử lý đổ vỡ), chỉ rõ hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BHTG và mô hình tổ chức, hoạt động của BHTGVN.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được tác giả phân định theo ba phương diện:

  • Về phương diện lý luận:
    • Câu hỏi nghiên cứu: Bản chất và mô hình BHTG trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay được tổ chức như thế nào, phát triển ra sao? Địa vị pháp lý của tổ chức BHTG trong nền kinh tế và cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với BHTG được xác định như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu: (i) BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc chi trả tiền gửi khi tổ chức tham gia bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán; (ii) Mô hình BHTG vận hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì ổn định hệ thống TCTD; (iii) Cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với BHTG mang tính chất đặc thù, không hoàn toàn dựa trên quan hệ hợp đồng thuần túy mà có sự can thiệp của Nhà nước.
  • Về phương diện luật thực định:
    • Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại BHTGVN đang diễn ra như thế nào; có những khó khăn, vướng mắc gì phát sinh từ quy định hoặc khâu tổ chức thực hiện?
    • Giả thuyết nghiên cứu: Quy định pháp luật hiện hành bộc lộ sự bất cập so với thông lệ quốc tế và thực tiễn (về chủ thể, loại tiền gửi được bảo hiểm, phí BHTG, kiểm tra, giám sát), đồng thời thiếu đồng bộ với Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại và Luật Phá sản.
  • Về phương diện kiến nghị, đề xuất:
    • Câu hỏi nghiên cứu: Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về BHTG và tổ chức BHTGVN theo cơ sở khoa học, mục đích và yêu cầu nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu: Xu thế hội nhập và bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng đặt ra yêu cầu bức thiết phải sửa đổi Luật BHTG, tăng hạn mức chi trả và trao quyền để BHTGVN tham gia sâu hơn vào xử lý TCTD yếu kém.

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về BHTG, hệ thống quy định pháp luật BHTG Việt Nam và quốc tế, cùng thực tiễn thực hiện pháp luật tại BHTGVN. Về phạm vi, luận án tập trung vào pháp luật BHTG và hoạt động của BHTGVN từ năm 2013 (thời điểm Luật BHTG năm 2012 có hiệu lực) đến thời điểm nghiên cứu (giai đoạn 2018 - 2020), có so sánh đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hai mảng nội dung chính:

Về vị trí, vai trò và chức năng của bảo hiểm tiền gửi:

  • Các nghiên cứu quốc tế: Asli Demirguc-Kunt, Baybars Karacaovali và Luc A. Laeven (2005) trong Deposit Insurance around the world - A database; Jang-Bong Choi (2000) với Structuring a deposit insurance system from the Asian perspective; Garcia G. Hupkes (2005) về vai trò bảo vệ tiền gửi và chính sách xử lý nhằm thúc đẩy ổn định tài chính; Mankiw G.N. (1992) trong Macroeconomics; Garcia G.H. (1999) khảo sát thực tiễn BHTG; Jusnior J. (1988) về cấu trúc hệ thống và giám sát ngân hàng Mỹ. Các tài liệu hướng dẫn của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) và Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) giai đoạn 2009 - 2010 về Bộ các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả.
  • Các công trình trong nước: Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu lập pháp (2009); nhóm bài viết của Nguyễn Thị Kim Oanh (2002, 2003) về đối tượng tham gia, hạn mức chi trả, cách tính phí và rủi ro đạo đức; Bùi Khắc Sơn (2014) về giải pháp chính sách BHTG; Nguyễn Văn Thạnh (2014) về ổn định tài chính; Nguyễn Minh Phong (2017) về nâng cao năng lực BHTGVN; Hà Huy Tuấn (2014, 2017) về hạn mức trả tiền bảo hiểm và tính phí BHTG; Nguyễn Thị Mùi (2016) về vai trò BHTG trong mạng an toàn tài chính quốc gia; Nguyễn Chí Đức và Nguyễn Tuấn Vũ (2014) về quan hệ giữa BHTG và kỷ luật thị trường ngân hàng; Vũ Văn Long (2017) về cơ chế đầu tư vốn nhàn rỗi; Võ Trí Thành (2014) về bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính; Nguyễn Đức Kiên (2017) và Nguyễn Toàn Thắng (2016) về vai trò BHTGVN trong tái cơ cấu TCTD.

Về hoạt động bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi:

  • Quốc tế: Các báo cáo chiến lược của Perbadanan Insurans Deposit Malaysia (PIDM); tài liệu hướng dẫn can thiệp của Cơ quan BHTG Canada (CDIC, 2014) phối hợp với Văn phòng Tổng giám đốc các tổ chức tài chính Canada (OSFI); các nghiên cứu của IADI (2012) về ứng phó khủng hoảng; mô hình tiếp nhận xử lý đổ vỡ của Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC) theo Đạo luật FDICIA 1991 và Đạo luật Dodd-Frank; cơ chế xử lý tài sản của Cơ quan BHTG Liên bang Nga (DIA); mô hình của Tổng công ty BHTG Hàn Quốc (KDIC).
  • Trong nước: Các công trình của Đinh Dũng Sỹ (2002, 2004, 2008); Lê Thị Thu Thủy (2007, 2008); Đào Trí Úc về bảo vệ người gửi tiền; Đào Văn Tuấn (2005); Bùi Hữu Toàn (2012); Lê Việt Nga (2012); Nguyễn Đăng Quân (2018); các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Duy Hoàn (2011), Nguyễn Cửu Lan Phương (2012), Trần Thị Nguyệt (2014); đề tài khoa học của Học viện Ngân hàng (2009).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện và tập trung giải quyết gồm:

  • Xác định cụ thể địa vị pháp lý và mô hình BHTG phù hợp cho Việt Nam trong mạng an toàn tài chính quốc gia.
  • Giải quyết bất cập về cơ chế thu phí: Luật BHTG quy định thu phí theo mức độ rủi ro nhưng thực tế BHTGVN vẫn thu phí đồng hạng 0,15% trên số dư tiền gửi bình quân, làm triệt tiêu tính công bằng thị trường.
  • Bất cập về hạn mức chi trả bảo hiểm (75 triệu đồng theo Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg) còn thấp so với quy mô tiền gửi và biến động kinh tế.
  • Bất cập về thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả: Quy định tại Luật BHTG năm 2012 gắn thời điểm chi trả với quyết định chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt phục hồi khả năng thanh toán, dẫn đến kéo dài thời gian chờ đợi của người gửi tiền.
  • Bổ sung thẩm quyền và cơ chế phối hợp của BHTGVN trong quá trình can thiệp sớm và tái cơ cấu TCTD theo Luật số 17/2017/QH14.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết kinh tế và pháp lý sau:

  • Lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill) và lý thuyết cạnh tranh tự do, nhằm giải thích tính chất cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng và sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính.
  • Lý thuyết về thông tin bất cân xứng và rủi ro đạo đức, dùng để phân tích quan hệ giữa người gửi tiền và TCTD, nguy cơ rút tiền hàng loạt và cơ chế BHTG nhằm khôi phục niềm tin thị trường.
  • Lý thuyết về quản trị rủi ro, phân chia và chuyển dịch rủi ro trong hoạt động bảo hiểm.
  • Quan điểm về vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Về phương pháp luận, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa kinh tế học và luật học, đặt trọng tâm vào phân tích luật học, kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa và phân tích tài liệu: Áp dụng chủ yếu tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3 để làm rõ cơ sở lý luận, tổng kết các công trình đi trước và phân tích thực trạng pháp lý.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật BHTG Việt Nam qua các thời kỳ (trước và sau Luật BHTG năm 2012) và so sánh với mô hình, chuẩn mực của các quốc gia (Mỹ, Canada, Hàn Quốc, Nga, Argentina, Đức, Hà Lan) cùng bộ nguyên tắc của IADI/BCBS.
  • Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu thực tế: Sử dụng số liệu thứ cấp do BHTGVN công bố giai đoạn 2013 - 2018/2019 về số lượng tổ chức tham gia, tình hình thu phí, số lượt kiểm tra giám sát để phục vụ cho nhận định tại Chương 3 và Chương 4.

Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật BHTG 2012, Luật Các TCTD 2010 và sửa đổi 2017, Luật NHNN 2010, Nghị định 89/1999/NĐ-CP, Nghị định 68/2013/NĐ-CP, các Quyết định 218/1999/QĐ-TTg, 1394/QĐ-TTg, 1395/QĐ-TTg, 21/2017/QĐ-TTg, 1058/QĐ-TTg, Thông tư 24/2014/TT-NHNN, 34/2016/TT-NHNN, 01/2018/TT-NHNN...); tài liệu chuẩn mực của IADI và Basel; các báo cáo thống kê hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về BHTG trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng hoạt động bảo vệ tiền gửi công khai bắt đầu từ năm 1829 tại bang New York (Mỹ) thông qua chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng. Quá trình phát triển sau đó dẫn tới sự thành lập IADI vào năm 2002. Tại Việt Nam, hoạt động BHTG xuất phát điểm từ Quyết định số 390/QĐ-TTg năm 1993 giao Bảo Việt thực hiện bảo hiểm trách nhiệm tiền gửi có kỳ hạn cho Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), sau đó định chế BHTGVN chính thức thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg. Chương này thiết lập khung lý thuyết (cạnh tranh, thông tin bất cân xứng, quản trị rủi ro, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), xác định 3 nhóm câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở phân tích cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế và pháp lý của BHTG. Xét về kinh tế, BHTG là quan hệ phân phối lại thông qua quỹ tài chính tập trung nhằm xử lý rủi ro mất khả năng thanh toán. Về phương diện pháp lý, BHTG là quan hệ pháp luật phát sinh giữa tổ chức BHTG và tổ chức tham gia BHTG để bảo vệ người gửi tiền bên thứ ba. Quan hệ này được thiết lập theo cơ chế luật định (phi hợp đồng), bắt buộc tham gia đối với các tổ chức nhận tiền gửi.

Tác giả phân loại 3 mô hình BHTG phổ biến trên thế giới:

  1. Mô hình chi trả thuần túy (Pay-box system): Chỉ thực hiện thu phí, quản lý quỹ và chi trả khi ngân hàng đổ vỡ (Úc, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Hà Lan, Singapore, Thụy Sỹ).
  2. Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (Pay-box system with extended power): Có thêm quyền hỗ trợ tài chính phục hồi thanh khoản, khuyến nghị phòng ngừa rủi ro, tham gia thu hồi nợ (Anh, Brazil, Argentina, Việt Nam).
  3. Mô hình giảm thiểu rủi ro (Risk-minimizer system): Có thẩm quyền toàn diện về giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ, đánh giá rủi ro, tính phí theo rủi ro, cảnh báo sớm, can thiệp sớm và trực tiếp xử lý giải thể, phá sản ngân hàng (Mỹ - FDIC, Hàn Quốc - KDIC, Nhật Bản, Pháp, Đài Loan).

Mức độ đáp ứng mục tiêu chính sách công của từng mô hình được tổng hợp theo tài liệu của IADI:

STT Mục tiêu chính sách công Mô hình chi trả Chi trả với quyền hạn mở rộng Mô hình giảm thiểu rủi ro
1 Bảo vệ người gửi tiền nhỏ thông qua việc cung cấp cơ chế bồi thường Có Có Có
2 Khuyến khích người gửi tiền ít hiểu về tài chính giám sát ngân hàng và thực hiện nguyên tắc thị trường Có Có Có
3 Giảm gánh nặng cho Chính phủ và yêu cầu các ngân hàng tốt đóng góp chi phí xử lý Có Có Có
4 Thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực tài chính Có Có Có
5 Tạo cơ chế chính thức trong xử lý đổ vỡ ngân hàng Không Có Có
6 Tránh khủng hoảng tài chính Không Có Có
7 Thúc đẩy ổn định tài chính Không Không Có
8 Khuyến khích tiết kiệm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Không Không Có
9 Góp phần vào hệ thống thanh toán có trật tự Không Không Có
10 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Không Không Có
11 Giảm thiểu tác động của suy thoái kinh tế Không Không Có

Chương này cũng tổng hợp bảng so sánh đặc điểm cấu trúc hệ thống BHTG tại một số quốc gia:

Quốc gia Quản trị Tổ chức BHTG Nhiều hệ thống trong một quốc gia Thành viên tham gia Thời điểm bắt buộc/tự nguyện Mô hình
Argentina Tự quản Tư nhân (người nhận quỹ ủy thác) Không Bắt buộc Khi được cấp phép Chi trả với quyền hạn mở rộng
Australia Giám sát Nhà nước Không Bắt buộc Khi được cấp phép Chi trả
Brazil Tự quản Hiệp hội phi lợi nhuận Có Bắt buộc Khi được cấp phép Chi trả với quyền hạn mở rộng
Đức Tự quản Hỗn hợp Có Bắt buộc Khi được cấp phép Chi trả
Nga Nhà nước Công ty Nhà nước Không Bắt buộc Khi được cấp phép Giảm thiểu chi phí
Hà Lan NHTW quản lý Nhà nước Không Bắt buộc Khi được cấp phép Chi trả

Về địa vị pháp lý tại Việt Nam, theo Luật BHTG năm 2012 và Nghị định số 68/2013/NĐ-CP, BHTGVN là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động theo mô hình Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là đại diện chủ sở hữu.

Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Chương 3 đi sâu đánh giá các mảng nghiệp vụ thực tế của BHTGVN giai đoạn 2013 - 2019:

  • Về chủ thể tham gia: Toàn bộ các NHTM, ngân hàng hợp tác xã, QTDND và tổ chức tài chính vi mô huy động tiền gửi cá nhân đều bắt buộc tham gia BHTG.
  • Về phí BHTG: Mặc dù Luật BHTG năm 2012 quy định xây dựng khung phí phân biệt theo mức độ rủi ro, nhưng trên thực tế BHTGVN vẫn thu phí đồng hạng mức 0,15%/năm tính trên số dư bình quân tiền gửi được bảo hiểm của tất cả các tổ chức. Điều này dẫn đến sự thiếu công bằng giữa tổ chức hoạt động an toàn và tổ chức có độ rủi ro cao.
  • Về loại tiền gửi và hạn mức: Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG. Hạn mức chi trả bảo hiểm tối đa được điều chỉnh từ 30 triệu đồng (1999 - 2004), lên 50 triệu đồng (2005 - 2017) và đạt 75 triệu đồng (bao gồm cả gốc và lãi) theo Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg từ ngày 05/8/2017. Luận án nhận định hạn mức 75 triệu đồng chỉ bảo vệ toàn bộ cho một tỷ lệ nhất định người gửi tiền nhỏ, chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người và quy mô huy động vốn.
  • Về kiểm tra, giám sát: BHTGVN thực hiện giám sát từ xa đối với 100% tổ chức tham gia và kiểm tra tại chỗ theo kế hoạch định kỳ (tập trung mạnh vào hệ thống QTDND). Tuy nhiên, cơ chế chia sẻ thông tin giữa NHNN và BHTGVN theo Thông tư số 34/2016/TT-NHNN vẫn còn hạn chế về tính kịp thời và mức độ chi tiết của dữ liệu kiểm tra.
  • Về phát sinh nghĩa vụ chi trả và xử lý đổ vỡ: Luật BHTG năm 2012 quy định thời điểm trả tiền bảo hiểm là khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi mà TCTD vẫn lâm vào tình trạng phá sản. Do thời gian kiểm soát đặc biệt thường kéo dài qua nhiều năm, quy định này làm chậm trễ quyền tiếp cận nguồn tiền của người gửi tiền.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Chương 4 đưa ra các nhóm định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Định hướng chuyển đổi mô hình: Từng bước hoàn thiện cơ chế để đưa BHTGVN từ mô hình "Chi trả với quyền hạn mở rộng" tiến tới mô hình "Giảm thiểu rủi ro", trao quyền chủ động hơn trong mạng an toàn tài chính.
  • Sửa đổi các nội dung cụ thể của Luật BHTG:
    • Ban hành cơ chế tính và thu phí BHTG theo mức độ rủi ro (phí phân biệt) thay cho mức đồng hạng 0,15% nhằm tạo động lực tự quản trị rủi ro cho các TCTD.
    • Điều chỉnh tăng hạn mức chi trả BHTG phù hợp với thông lệ quốc tế (IADI khuyến nghị hạn mức nên bao phủ hoàn toàn từ 90% đến 95% số lượng người gửi tiền).
    • Sửa đổi Điều 24 Luật BHTG về thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả: Cho phép BHTGVN chi trả ngay khi TCTD mất khả năng thanh toán nghiêm trọng hoặc khi NHNN quyết định đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt mà xét thấy không thể phục hồi, không nhất thiết phải đợi chấm dứt toàn bộ quá trình kiểm soát đặc biệt.
    • Thể chế hóa đồng bộ nhiệm vụ của BHTGVN theo Luật số 17/2017/QH14: Bổ sung quy định rõ ràng trong Luật BHTG về quyền cho vay đặc biệt đối với TCTD bị kiểm soát đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ, tham gia đánh giá phương án phục hồi và xây dựng phương án phá sản QTDND, tổ chức tài chính vi mô.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi: Cải thiện quy chế cung cấp và trao đổi thông tin giám sát giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (NHNN) và BHTGVN; đa dạng hóa danh mục đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của BHTGVN để bảo toàn và phát triển quỹ; tăng cường năng lực kiểm tra chuyên sâu đối với hệ thống QTDND.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các kết quả và điểm đóng góp khoa học chính bao gồm:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện các lý luận về bản chất quan hệ pháp luật BHTG; làm rõ đặc trưng cơ chế điều chỉnh pháp luật mang tính chất mệnh lệnh, công quyền kết hợp với bảo đảm an sinh tài chính; phân tích 3 mô hình BHTG quốc tế và định vị rõ mô hình thực tế của Việt Nam là mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng nhưng đang hướng tới giảm thiểu rủi ro.
  • Về mặt thực tiễn pháp lý: Luận án phân tích toàn diện thực trạng thi hành Luật BHTG năm 2012 trong giai đoạn 2013 - 2020; chỉ ra 4 điểm nghẽn pháp lý cốt lõi: (1) cơ chế thu phí cào bằng 0,15% chậm đổi mới; (2) hạn mức bảo hiểm 75 triệu đồng chưa tương xứng; (3) quy trình phát sinh nghĩa vụ chi trả gắn với việc chấm dứt kiểm soát đặc biệt gây kéo dài thời gian; (4) sự thiếu tương thích giữa Luật BHTG năm 2012 với Luật số 17/2017/QH14 về vai trò của BHTGVN trong tái cơ cấu ngân hàng.
  • Về mặt kiến nghị: Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi Luật BHTG năm 2012, đề xuất lộ trình áp dụng phí rủi ro, nâng hạn mức bồi thường, rút ngắn thời điểm chi trả và mở rộng thẩm quyền can thiệp sớm cho BHTGVN.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án chủ yếu khai thác các số liệu hoạt động và văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2019. Luận án tập trung chủ yếu vào định chế BHTGVN và các TCTD thuộc đối tượng điều chỉnh bắt buộc theo quy định pháp luật Việt Nam, chưa đi sâu khảo sát các mô hình quỹ bảo toàn nội bộ mang tính chất tư nhân hoặc nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi xuyên biên giới đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh tích hợp số hóa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung đánh giá tác động định lượng khi chuyển đổi từ biểu phí đồng hạng sang biểu phí phân biệt theo rủi ro, nghiên cứu khung pháp lý cho việc BHTGVN can thiệp, xử lý khủng hoảng ngân hàng trên nền tảng ngân hàng số và các loại hình tài sản tài chính mới.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Tài chính - Tiền tệ khi tìm hiểu về chế định bảo hiểm tiền gửi và pháp luật ngân hàng.
  • Giảng viên các cơ sở đào tạo luật học và kinh tế sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy các học phần Pháp luật về tổ chức tín dụng, Pháp luật thị trường tài chính.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, BHTGVN, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội) trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo hồ sơ sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi và hoàn thiện cơ chế can thiệp, tái cơ cấu hệ thống TCTD yếu kém.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình hoạt động hiện nay của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thuộc loại nào theo phân loại quốc tế? Theo tài liệu phân loại của IADI và kết quả nghiên cứu của luận án, BHTGVN hoạt động theo mô hình "Chi trả với quyền hạn mở rộng" (Pay-box system with extended power). Tổ chức này không chỉ dừng lại ở việc thu phí và chi trả khi phá sản, mà còn được giao quyền kiểm tra, giám sát từ xa, hỗ trợ tài chính và tham gia quá trình kiểm soát đặc biệt, cơ cấu lại TCTD. Định hướng phát triển của Việt Nam là từng bước tiến tới mô hình "Giảm thiểu rủi ro" (Risk-minimizer system).

2. Thực trạng cơ chế tính và thu phí bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam có điểm bất cập gì? Mặc dù Luật BHTG năm 2012 đã định hướng thu phí dựa trên kết quả đánh giá và phân loại rủi ro của từng TCTD (phí phân biệt), trên thực tế BHTGVN vẫn áp dụng cơ chế thu phí đồng hạng mức 0,15%/năm tính trên số dư bình quân tiền gửi được bảo hiểm đối với tất cả các tổ chức tham gia. Cơ chế cào bằng này không phân biệt mức độ an toàn hay rủi ro của từng định chế, tạo tâm lý ỷ lại và không khuyến khích các TCTD nâng cao chất lượng quản trị.

3. Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam đã biến đổi qua các giai đoạn như thế nào? Hạn mức chi trả tối đa cho toàn bộ các khoản tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG trải qua ba mốc:

  • Giai đoạn 1999 - 2004: Mức tối đa 30 triệu đồng (theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP).
  • Giai đoạn 2005 - tháng 8/2017: Mức tối đa 50 triệu đồng (theo Nghị định số 109/2005/NĐ-CP).
  • Từ ngày 05/8/2017 đến thời điểm nghiên cứu: Mức tối đa 75 triệu đồng (theo Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg).

4. Luật số 17/2017/QH14 đã bổ sung những chức năng, thẩm quyền mới nào cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong tái cơ cấu ngân hàng? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD năm 2017 đã giao cho BHTGVN 4 nhiệm vụ mới trong quá trình tái cơ cấu TCTD yếu kém:

  • Cho vay đặc biệt đối với TCTD bị kiểm soát đặc biệt để hỗ trợ khả năng chi trả.
  • Mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ theo quyết định của NHNN.
  • Phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi đối với QTDND, tổ chức tài chính vi mô, công ty tài chính.
  • Phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt xây dựng phương án phá sản TCTD được kiểm soát đặc biệt để trình NHNN xem xét.

5. Vì sao quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả tại Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 bị coi là điểm nghẽn? Theo Luật BHTG năm 2012, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm chỉ phát sinh khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản không áp dụng/chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD vẫn lâm vào tình trạng phá sản. Thực tế quá trình kiểm soát đặc biệt và tìm kiếm giải pháp phục hồi thường kéo dài nhiều năm, khiến người gửi tiền không thể nhận lại tiền gửi bảo hiểm kịp thời, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu an sinh và bảo vệ người gửi tiền.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Ngô Quang Huy đã giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam trên nền tảng đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và chuẩn mực IADI. Công trình đã làm rõ những vướng mắc phát sinh từ việc thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 trong mối quan hệ với Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017, trọng tâm là các bất cập về mức phí đồng hạng, hạn mức bồi hoàn và thời điểm chi trả. Các giải pháp do luận án đề xuất có tính đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.