Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của cơ quan bảo hiểm tiền gửi Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cơ quan bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam. Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cơ quan bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam. 11 z CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Tổng quan về cơ quan bảo hiểm tiền gửi 1.
Vị trí pháp lý của cơ quan bảo hiểm tiền gửi Khi đề cập đến vị trí pháp lý của một tổ chức nào đó chính là xác định vị trí mà pháp luật quy định cho tổ chức đó trong mối quan hệ với các chủ thể liên quan như tổ chức cá nhân khác hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, vị trí pháp lý của cơ quan BHTG chính là vị trí mà pháp luật quy định trong mối quan hệ với người gửi tiền, các tổ chức tham gia BHTG cũng như các cơ quan nhà nước khác. Cơ quan BHTG ở Việt Nam hiện nay có tên gọi là "Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam", tên giao dịch quốc tế là Deposit Insurance of Vietnam, viết tắt là DIV, được thành lập theo Quyết định số 1394/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 08 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ (trước đây là Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ) và Quyết định 1395/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2013 Phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng. Ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, việc xác định vị trí pháp lý của tổ chức BHTG phụ thuộc vào mô hình BHTG mà quốc gia đó lựa chọn.
Đó có thể là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được thực hiện hoạt động BHTG, hoặc được tổ chức dưới dạng một quỹ BHTG hoặc là một tổ chức BHTG độc lập của nhà nước. Hầu hết các quốc gia theo mô 12 z hình là một tổ chức độc lập thuộc nhà nước, theo đó tổ chức BHTG có thể thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội, với mô hình này đòi hỏi nguồn vốn hoạt động lớn, tính độc lập khá cao phù hợp với các nước phát triển. Ví dụ như Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang của Hoa Kỳ (FDIC) là tổ chức bảo hiểm tiền gửi đầu tiên trên thế giới, FDIC là tổ chức hoạt động độc lập với Chính phủ và chịu sự kiểm soát của Quốc hội; Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) được thành lập năm 1996 do Chính phủ quản lý; Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Indonesia (IDIC) được thành lập năm 2005, là tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ, chịu trách nhiệm về việc triển khai chức năng nhiệm vụ của mình và báo cáo trực tiếp cho Tổng thống, có thẩm quyền ban hành văn bản điều chỉnh hoạt động BHTG. Tại Việt Nam, trước khi có Luật bảo hiểm tiền gửi những quy định về địa vị pháp lý của tổ chức BHTG được quy định tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP và Nghị định 109/2005/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 89/1999 của Chính phủ về BHTG, theo đó tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính nhà nước độc lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, góp phần duy trì sự phát triển an toàn và lành mạnh hoạt động ngân hàng.
Trong điều kiện hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ việc quy định như vậy là phù hợp bởi lẽ với hệ thống ngân hàng phát triển chưa đủ mạnh, mà đặc thù của hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và rủi ro thường mang tính dây chuyền nên sẽ ảnh hưởng lớn đến an toàn của hệ thống tài chính quốc gia khi có rủi ro xảy ra. Do đó khi tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính của nhà nước sẽ tạo ra cơ chế đủ mạnh để đối phó với những rủi ro và giúp đỡ các tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn về tài chính trong quá trình hoạt động. Mặt khác lúc này việc tham gia BHTG sẽ là bắt buộc đối đối với tất cả các tổ chức có hoạt động nhận tiền gửi cho dù tổ chức đó 13 z hoạt động yếu kém hay đủ mạnh về tài chính, uy tín về năng lực. Tuy nhiên, việc quy định như trên rõ ràng chưa khẳng định được cụ thể hình thức pháp lý của BHTG Việt Nam và dù BHTG Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg từ năm 1999 nhưng chưa giao cụ thể cho cơ quan nào thay mặt Chính phủ quản lý nhà nước về BHTG.
Kế thừa các quy định về pháp luật bảo hiểm tiền gửi trước đây cũng như kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, theo quy định tại Khoản 4, Điều 4 Luật bảo hiểm tiền gửi thì“ Tổ chức BHTG là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng”. Và tại Điều 29 Luật bảo hiểm tiền gửi có quy định “Tổ chức BHTG là tổ chức tài chính do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ. Tổ chức BHTG là pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo an toàn vốn và tự bù đắp chi phí” Như vậy, được quy định là một tổ chức tài chính nhà nước thực hiện chính sách BHTG, một pháp nhân hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, tổ chức BHTG vừa là công cụ của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ vừa là một pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm phi thương mại và được tổ chức, hoạt động như một doanh nghiệp nhà nước. Cho dù ở vị trí nào đi nữa thì tổ chức BHTG hoạt động vì mục tiêu chính sách công nhằm bảo vệ người gửi tiền, củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính ngân hàng góp phần ổn định hệ thống tài chính, phát triển bền vững nền kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội.
14 z Khi mới thành lập theo quyết định số 218/1999/QĐ- TTg, số vốn điều lệ của BHTG Việt Nam là 1.000 tỷ đồng do Nhà nước cấp và được bổ sung từ nguồn thu phí BHTG. Qua thời gian hoạt động, số vốn của DIV được tăng dần lên và tính đến tháng 1/2008 là 5. Có thể thấy, việc bổ sung vốn hoạt động cho DIV là hết sức cần thiết bởi lẽ với nguồn vốn hạn hẹp, DIV chỉ mới dừng lại ở khả năng trợ giúp các tổ chức tín dụng nhỏ, chưa đủ tầm để tham gia hỗ trợ các tổ chức tín dụng lớn cũng như khả năng đối phó với việc rút tiền hàng loạt khi xảy ra khủng hoảng trong hoạt động ngân hàng. Theo thông lệ quốc tế thì quỹ BHTG/Tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm thường là 2.
Hiện nay ở nước ta tỷ lệ này mới ở khoảng 1% là khá thấp [44]. Sau khi Luật Bảo hiểm tiền gửi được ban hành, ngày 13/8/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1394/QĐ-NHNN về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và quy định chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng do Ngân sách Nhà nước cấp; có trụ sở chính ở thành phố Hà Nội, văn phòng đại diện và các chi nhánh ở một số khu vực. Như vậy có thể thấy rằng, kể cả trước và sau khi có Luật Bảo hiểm tiền gửi thì tên gọi của cơ quan BHTG Việt Nam vẫn không có gì thay đổi.
Mặc dù Cơ quan BHTG Việt Nam được tổ chức, quản trị và điều hành theo mô hình công ty, có Hội đồng quản trị, có Ban điều hành là Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, các Giám đốc chi nhánh, Trưởng văn phòng đại diện. Theo thông lệ quốc tế, hầu hết cơ quan BHTG đều có tên gọi là Tổng công ty như Tổng công ty BHTG Hoa Kỳ, Tổng công ty BHTG Indonesia…Trong quá trình soạn thảo và ban hành Luật BHTG, có nhiều quan điểm khác nhau về tên gọi của cơ quan BHTG. Phần lớn đều cho rằng nên lấy tên là Tổng công ty BHTG Việt Nam vì nó phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với cơ cấu tổ chức, quản trị và 15 z điều hành như quy định hiện nay. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng cơ quan BHTG không nên tổ chức theo đuổi mục tiêu lợi nhuận mà đơn giản chỉ là một tổ chức tài chính đặc biệt của nhà nước, một công cụ của chính phủ để theo đuổi mục tiêu chính sách công nên không nên gọi là Tổng công ty.
Cho dù Luật BHTG ra đời vẫn để nguyên tên gọi của tổ chức này thì địa vị pháp lý của BHTG Việt Nam vẫn là một tổ chức tài chính của nhà nước, do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, Ngân hàng Nhà nước thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với cơ quan BHTG Việt Nam; cơ quan BHTG Việt Nam có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu và được mở tài khoản tại Ngân hàng, được miễn các loại thuế theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật BHTG trước khi ban hành Luật BHTG, cơ quan BHTG Việt Nam là một tổ chức do chính phủ thành lập và chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác mà pháp luật quy định [13].Tuy nhiên các quy định này chưa xác định được cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động BHTG và thực hiện thanh tra, giám sát và kiểm tra hoạt động BHTG. Tại Khoản 14, Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 chỉ quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện quản lý nhà nước về BHTG theo quy định của pháp luật về BHTG.