Đặt vấn đề Cây sắn (Manihot Esculenta Crantz) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được trồng cách đây khoảng 5. Cây sắn là cây lương thực, thực phẩm chính quan trọng sau cây lúa, cây ngô và lúa mì. Tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin, gần 1 tỷ người đang sử dụng sắn như là nguồn lương thực chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Sản phẩm của sắn là nguồn nguyên liệu quan trọng hàng đầu để chế biến nhiên liệu sinh học đồng thời cũng là cây thức ăn gia súc, cây hàng hoá xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền và các sản phẩm thiết thực trong đời sống hằng ngày [1].
Đặc biệt trong tương lai gần sắn là nguồn nguyên liệu dồi dào và hiệu quả cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Cây sắn có nguồn gốc ở Nam Mỹ, sau đó được du nhập vào châu Phi và châu Á, đến nay sắn được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới từ 300N đến 300S của ba châu lục nói trên [5]; [14]. Ở Việt Nam, cây sắn được trồng rộng rãi trên toàn quốc và được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Cây sắn được du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỉ 18 được trồng rộng dãi khắp các tỉnh từ Bắc tới Nam.
Ở Việt Nam sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô, đồng thời là nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến tinh bột cũng như thức ăn gia súc với nhiều sản phẩm đa dạng và phong phú. Năm 2017 diện tích sắn trên cả nước là 532.501 ha, năng suất bình quân 19,28 tấn/ha, sản lượng đạt 10. Một trong những tồn tại của sản xuất sắn ở Việt Nam hiện nay là năng suất sắn ở địa phương vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất của Luan van 2 các giống sắn mới. Lý do là người dân thường quan niệm sắn là cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh, chọn giống và thời vụ trồng thích hợp với giống sắn.
Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững ở Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng, việc nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố thời vụ đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất và chất lượng của giống sắn nếp Tân Lĩnh – Lục Yên – Yên Bái năm 2019 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên’’ là hết sức cần thiết. Mục đích Xác định được thời vụ trồng thích hợp đối với giống sắn nếp nhằm đạt năng suất, chất lượng cao. Yêu cầu - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất và chất lượng của giống sắn nếp Tân Lĩnh.
- Xác định thời vụ trồng thích hợp cho giống sắn nếp Tân Lĩnh để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột hiện nay ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc. - Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng lý thuyết vào thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp. - Giúp sinh viên nắm được phương pháp triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, phương pháp đo đếm, thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học.
Luan van 3 - Đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho sinh viên các khóa tiếp theo.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần tìm ra thời vụ trồng thích hợp nhất đối với giống sắn để cho năng suất cao và chất lượng tốt áp dụng vào sản xuất đại trà tại Thái Nguyên. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học của đề tài Tục ngữ xưa nói về kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp có câu “ Nhất thì nhì thục ” ở đây chính là thời vụ.
Người xưa căn cứ vào điều kiện tự nhiên của từng vùng và quy luật diễn biến khí hậu theo năm để xác định thời vụ cho hợp lý. Đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất lương thực đặc biệt là sản xuất sắn nói riêng thời vụ vô cùng quan trọng trong sản xuất. Thời vụ quyết định đến năng suất và chất lượng. Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất của cây trồng nông nghiệp thì cần phải xác định thời vụ của giống cây trồng đó đảm bảo cho năng suất và chất lượng tốt nhất.
Bởi trong từng thời vụ có điều kiện ngoại cảnh khác nhau ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây. Nghiên cứu thời vụ trồng sắn ở nước ta chưa nhiều, việc nghiên cứu thời vụ không những giúp xác địunh được thời vụu trồng hợp lý mà còn xác định được thời vụ có hiệu quả kinh tế cao. Cơ sở thực tiễn của đề tài Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc có diện tích đất tự nhiên 356.282 ha, dân số 1.000 triệu người. Năm 2017 diện tích trồng sắn của tỉnh khoảng 2.900 ha năng suất trung bình 14,1 tấn/ha, sản lượng 41.
Tuy nhiên, người dân chủ yếu trồng theo phương thức quảng canh, nên năng suất thấp, đồng thời còn làm đất bị rửa trôi bạc màu, hoang hóa. Mặt khác thời tiết khí hậu ở Thái Nguyên có nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa trong các tháng thay đổi phù hợp với sinh trưởng phát triển của cây sắn. Sắn sinh trưởng và phát triển tốt ngay cả trên đất dốc vì vậy mà tận dụng được diện tích đất trồng cộng thêm cây sắn ít sâu bệnh hại nên sẽ đem lại năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và trong nước 2.
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Theo số liệu thống kê của FAO, tính đến năm 2018 diện tích trồng sắn trên thế giới đạt 24,59 triệu ha với năng suất bình quân 11,29 tấn/ha, tổng sản lượng đạt được là 277,8 triệu tấn.1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn 2014 - 2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2014 25,54 11,38 292,942 2015 25,96 11,28 293,010 2016 25,03 11,52 288,497 2017 24,57 11,36 279,304 2018 24,59 11,29 277,808 (Nguồn: FAOSTAT ,2020)[20]. Qua bảng số liệu 2.1, ta thấy: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên thế giới có xu hướng giảm dần từ năm 2014 đến năm 2018. Trong đó, so với năm 2014 diện tích trồng sắn trên toàn thế giới năm 2018 giảm 0,95 triệu ha, năng suất giảm 0,09 tấn/ ha và sản lượng giảm 13,134 triệu tấn. Diện tích trồng sắn trên toàn thế giới cao nhất đạt 25,96 triệu ha vào năm 2015, Tuy nhiên sắn là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện kinh tế đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao khi đất nghèo dinh dưỡng, là cây trồng công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều loại cây trồng công nghiệp khác.
Nhu cầu sắn lương thực ở châu Phi tiếp tục tăng, nhất là những sản phẩm giá trị gia tăng. Luan van 6 Tại châu Á, nhu cầu cũng gia tăng trong các ứng dụng công nghiệp, dưới dạng tinh bột hoặc ethanol. Ấn Độ là một trong những quốc gia tiêu thụ mạnh trong những ngành này. Sắn được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng công nghiệp, đặc biệt ở những nước đang phát triển.
Nigeria là một trong những thị trường tiêu thụ mạnh các sản phẩm từ sắn trong công nghiệp. Sắn được sử dụng trong các ngành dệt may, dầu mỏ, dược phẩm, đồ uống nhẹ, bia, Ethanol.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các Châu lục trên thế giới năm 2018 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Châu lục (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Toàn thế giới 24,59 11,29 277,80 Châu Phi 18,68 9,08 169,67 Châu Mỹ 2,13 12,76 27,24 Châu Á 3,75 21,47 80,63 Châu Đại Dương 0,02 12,32 0,25 (Nguồn: FAOSTAT, 2020) [20]. Qua bảng số liệu 2.2, ta thấy: Châu Phi đứng đầu thế giới với tổng diện tích trồng sắn lên tới 16,68 triệu ha trong khi toàn thế giới là 24,59 triệu ha. Sắn là nguồn lương thực chính của người dân tại nhiều nước thuộc châu lục này.
Một số nước trồng nhiều sắn ở châu Phi như: Nigeria (59,47 triệu tấn), Cộng hòa Dân chủ Congo (14,35 triệu tấn), Angola (86,59 triệu tấn). Châu Á cùng với châu Phi và châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan trọng của thế giới. Diện tích sắn châu Á hiện có 3,75 triệu ha, sản lượng 80,63 triệu tấn đứng thứ hai sau châu Phi, năng suất sắn ở châu Á hiện đạt bình quân 21,47 tấn/ha cao hơn châu Phi 8,71 tấn/ha. Luan van 7 Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn.
Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng. Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến. Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993- 2020, ước tính tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84- 0,96%.
Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía. Tình hình sản xuất sắn trong nước Ở Việt Nam, sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng trong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô. Sắn là cây lương thực quan trọng thứ ba sau ngô, lúa (Phạm Văn Biên,1998)[2] và đang có xu hướng tăng ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ do đặc tính đa năng của nó. Cây sắn được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam, nhưng tập trung thành vùng chính gồm có: vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, ven biển miền Trung và vùng Trung du miền núi phía Bắc.