Mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan – Van Helmont (1629) ông đã trồng cây Liễu nặng 2,25kg vào thùng chứa 80kg đất. Một năm sau cây Liễu nặng 66kg trong khi đất chỉ giảm 66g. Tác giả kết luận cây chỉ cần nước để sống. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đề xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống.
Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người Đức Liibign(1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng. Liibig cho rằng độ màu mỡ của đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóa học cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng. Năm 1963 Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.
Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổi cây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết. Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh trưởng chậm và chất lượng kém. Năm 1974 polster, Fidler và lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây than gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây than gỗ ở mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau.
Chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón phân đã tăng năng suất từ 6,5 tấn/ha lên 25 tấn/ha (Chương trình lương thực thế giới,1997) 7. Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng n 8 giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chế phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông lâm nghiệp hiện đại.
Theo Thomas (1985) chất lượng cây con có quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.
Trong những năm gần đây, nhiều mước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật, Trung quốc,…đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất cho nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen,…(Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu, Spray–Ngrow…(Hoa Kỳ), Diệp lục tố, đặc phong,…(Trung Quốc). Nhiều chế phẩm đã được nghiên cứu và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Hữu Thước (1963), Nguyễn Ngọc Tân (1985), Nguyễn Xuân Quát (1985), Trần Gia Biển (1985)… các tác giả đều đi đến kết luận chung cho rằng mỗi loại cây trồng đều có yêu cầu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗn hợp hoàn toàn khác nhau. Nước ta là một nước có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp nên việc sử dụng phân bón đã được dùng trong canh tác từ lâu. Chúng ta cũng luôn tìm tòi nghiên cứu đẻ tìm ra các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng cho nền nông nghiệp với mong muốn không ngừng nâng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc sống ngày càng tăng.
n 9 Một trong các biện pháp kỹ thuật đó là dựa vào tính ưu việt của các chế phẩm sinh học có khả năng cung cấp một cách nhanh chóng dưỡng chất cho cây, phát huy hiệu lực của phân đa lượng, giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy các nhà nghiên cứu, các nhà sản xuất nông nghiệp đã chú trọng đầu tư nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học. Hướng tới nền sản xuất nông nghiệp sạch, các cơ quan nghiên cứu, các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế đã và đang sản xuất ra nhiều sản phẩm phân bón đa dạng, phân bón sinh học trở thành phân bón không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp do đó: Phân vi sinh, phân bón lá, phân hữu cơ cũng được ra đời và đã được sản xuất tại Việt Nam như: Công ty xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật Henco, công ty sinh hóa nông nghiệpvà thương mại Thiên Sinh,… đã cho ra thị trường nhiều loại phân bón có tác dụng đối với nhiều loại cây trồng như: NPK Lâm Thao, Super Lân,… khi chúng ta sử dụng phân bón vào sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả khả quan. Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất.
Do trên mỗi lá có hàng triệu khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng. Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao (POBEGOP,1972) 16 .4 Tổng quan khu vực nghiên cứu * Vị trí địa lý - Đề tài được tiến hành tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau: + Phía Bắc giáp với phường Quán Triều. n 10 + Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán. + Phía Tây giáp với xã Phúc Hà.
+ Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. * Địa hình Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung bình 10 - 15 0 , độ cao trung bình 50 – 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch.
Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì ta nhận thấy: - Độ pH của đất thấp điều đó chứng tỏ đất ở đây chua. - Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp. Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng.1: Kết quả phân tích mẫu đất Độ sâu tầng Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất đất (cm) Mùn N P2O5 K2O N P2O5 K2O PH 1- 10 1.7 ( Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL thái Nguyên) * Đặc điểm khí hậu: Vườn ươm trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
n 11 Nắng: Số giờ nắng cả năm là 1. Tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất (khoảng 170 - 180 giờ). Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 230C. Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2- 50C.
Nhiệt độ cao tuyệt đối là 37oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3oC. Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 1500- 2000 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8, 9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng 7 có số ngày mưa nhiều nhất. Độ ẩm không khí: Trung bình đạt khoảng 82%. Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70%.
Sự chênh lệch độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10-17%. Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc. Do nằm xa biển nên xã Quyết Thắng nói riêng và thành phố Thái Nguyên nói chung ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão.5 Một số thông tin về loài cây Xà cừ * Đặc điểm hình thái: Là cây đại mộc có thể cao từ 35–40 m, đường kính cây có khi đạt đến 2m. Cây thường xanh, tán lá rậm, cành nhiều, cành non cong xuống.
Lá kép lông chim một lần chẵn, cụm hoa chùm tán, hoa nhỏ màu trắng có 4 cánh nhỏ màu trắng dính nhau, mùa hoa tháng 4-5.Quả nang nhỏ, chín tháng 10, khi chín bung thành 4 mảnh. Vỏ cây màu xám nâu, vỏ nứt đồng tiền khoanh tròn như cái sọ nên cây còn có tên là sọ khỉ. n 12 * Đặc điểm sinh thái: Xà cừ là cây ưa sáng mọc nhanh, dễ trồng hạt nảy mầm rất khoẻ, tái sinh hạt và chồi đều mạnh. Cây tăng trưởng rất nhanh, có thể phát triển tốt trên mọi địa hình, mọi loại đất, rất phù hợp với nền đất cát của vùng ven biển miền trung Việt Nam, cây chịu hạn và gió bão rất tốt.
Đặc biệt cây có khả năng đề kháng với sâu bệnh rất cao. * Tạo cây con: - Xử lý hạt giống Hạt giống trước khi gieo được ngâm trong thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,05% trong 10 phút, sau đó vớt ra rửa sạch và ngâm hạt trong nước ấm 45 oC để nguội dần sau 10 – 12 giờ, vớt ra và ủ trong túi vải (những hạt chưa trương tiếp tục xử lý trong nước ấm). Hằng ngày rửa chua bằng nước ấm (nước sạch), túi vải ủ hạt phải luôn luôn ẩm, sau 3 – 4 ngày hạt nẩy mầm có thể đem đi gieo (những hạt chưa nẩy mầm tiếp tục ủ để hạt nẩy mầm). Chuẩn bị bầu đất Dùng túi bầu PE 10 x 15 cm đựng hỗn hợp ruột bầu.
Thành phần ruột bầu gồm 80% đất tầng AB + 20% phân hữu cơ đã hoai (phân chuồng, phân xanh, phân rác). Đất làm ruột bầu được đập sàng nhỏ trộn đều với phân và đổ vào bầu thật đầy, sau đó xếp thành luống có chiều ngang 0,8-1m, chiều dài tùy ý, khoảng cách giữa 2 luống 0,4m. Gieo hạt Trước khi gieo hạt, bầu đất phải được tưới nước đủ ẩm trước đó 1 ngày.