Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng của cây xà cừ khaya senegalensis giai đoạn vườn ươm tại trường đại học nông lâm thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác động của phân bón lá đến sinh trưởng cây xà cừ Khaya senegalensis trong giai đoạn vườn ươm tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nông lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

52
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa nghiên cứu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Những nghiên cứu trên thế giới

2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam

2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.5. Một số thông tin về loài cây Xà cừ

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp

3.4.2. Phương pháp nội nghiệp

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng về chiều cao của cây Xà cừ dưới ảnh hưởng của các loại phân bón

4.2. Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng đường kính cổ rễ D 00 của cây Xà cừ giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm

4.3. Kết quả nghiên cứu về động thái ra lá của cây Xà cừ ở các công thức thí nghiệm

4.4. Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Xà cừ ở các công thức thí nghiệm

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng cây xà cừ

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng của cây xà cừ (Khaya senegalensis) trong giai đoạn vườn ươm. Mục tiêu chính là xác định loại phân bón lá phù hợp nhất để tối ưu hóa sự phát triển của cây về chiều cao, đường kính cổ rễ và số lá. Phân bón lá được coi là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cây giống, đặc biệt trong giai đoạn vườn ươm, nơi cây con cần được chăm sóc kỹ lưỡng để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh.

1.1. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá

Phân bón lá là một phương pháp bón phân hiệu quả, giúp cây hấp thụ chất dinh dưỡng nhanh chóng qua lá. Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong giai đoạn vườn ươm, khi cây con cần được cung cấp đủ chất dinh dưỡng để phát triển. Phân bón lá có thể là phân hữu cơ hoặc vô cơ, và việc lựa chọn loại phân phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân đối nồng độ và thời gian bón phân để đạt hiệu quả tối ưu.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách thử nghiệm các loại phân bón lá khác nhau trên cây xà cừ trong giai đoạn vườn ươm. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm chiều cao, đường kính cổ rễ và số lá của cây. Dữ liệu được thu thập và phân tích để đánh giá ảnh hưởng của từng loại phân bón. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con hiệu quả.

II. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy phân bón láảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng của cây xà cừ. Các loại phân bón khác nhau mang lại hiệu quả khác nhau về chiều cao, đường kính cổ rễ và số lá. Một số loại phân bón lá đã chứng minh khả năng cải thiện đáng kể sự phát triển của cây, trong khi một số loại khác không mang lại hiệu quả rõ rệt. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc lựa chọn loại phân bón phù hợp với đặc tính sinh học của cây xà cừ.

2.1. Ảnh hưởng đến chiều cao cây

Kết quả cho thấy phân bón lá có tác động tích cực đến chiều cao của cây xà cừ. Các loại phân bón giàu nitơ và kali giúp cây phát triển chiều cao nhanh hơn so với các loại phân bón khác. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về vai trò của nitơ và kali trong sinh trưởng thực vật.

2.2. Ảnh hưởng đến đường kính cổ rễ

Phân bón lá cũng có ảnh hưởng đến đường kính cổ rễ của cây xà cừ. Các loại phân bón giàu photpho và kali giúp tăng cường sự phát triển của rễ, từ đó cải thiện đường kính cổ rễ. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc cân đối các chất dinh dưỡng trong phân bón để đảm bảo sự phát triển toàn diện của cây.

III. Ý nghĩa thực tiễn và kết luận

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cây giống cây xà cừ trong giai đoạn vườn ươm. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn sản xuất để tối ưu hóa quy trình chăm sóc cây con. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần vào việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật hiệu quả trong nông nghiệplâm nghiệp.

3.1. Ứng dụng trong sản xuất cây giống

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện quy trình sản xuất cây giống cây xà cừ. Việc sử dụng phân bón lá phù hợp sẽ giúp tăng chất lượng cây con, từ đó nâng cao hiệu quả trồng rừng và phát triển cây xanh đô thị.

3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về ảnh hưởng của phân bón lá đến các loại cây trồng khác. Cần có thêm các nghiên cứu để xác định loại phân bón tối ưu cho từng loại cây và điều kiện môi trường cụ thể.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng của cây xà cừ khaya senegalensis giai đoạn vườn ươm tại trường đại học nông lâm thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan – Van Helmont (1629) ông đã trồng cây Liễu nặng 2,25kg vào thùng chứa 80kg đất. Một năm sau cây Liễu nặng 66kg trong khi đất chỉ giảm 66g. Tác giả kết luận cây chỉ cần nước để sống. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đề xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống.

Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người Đức Liibign(1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng. Liibig cho rằng độ màu mỡ của đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóa học cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng. Năm 1963 Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.

Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổi cây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết. Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh trưởng chậm và chất lượng kém. Năm 1974 polster, Fidler và lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây than gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây than gỗ ở mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau.

Chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.

Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón phân đã tăng năng suất từ 6,5 tấn/ha lên 25 tấn/ha (Chương trình lương thực thế giới,1997) 7. Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng n 8 giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chế phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông lâm nghiệp hiện đại.

Theo Thomas (1985) chất lượng cây con có quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con.

Trong những năm gần đây, nhiều mước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật, Trung quốc,…đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất cho nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen,…(Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu, Spray–Ngrow…(Hoa Kỳ), Diệp lục tố, đặc phong,…(Trung Quốc). Nhiều chế phẩm đã được nghiên cứu và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Hữu Thước (1963), Nguyễn Ngọc Tân (1985), Nguyễn Xuân Quát (1985), Trần Gia Biển (1985)… các tác giả đều đi đến kết luận chung cho rằng mỗi loại cây trồng đều có yêu cầu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗn hợp hoàn toàn khác nhau. Nước ta là một nước có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp nên việc sử dụng phân bón đã được dùng trong canh tác từ lâu. Chúng ta cũng luôn tìm tòi nghiên cứu đẻ tìm ra các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng cho nền nông nghiệp với mong muốn không ngừng nâng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc sống ngày càng tăng.

n 9 Một trong các biện pháp kỹ thuật đó là dựa vào tính ưu việt của các chế phẩm sinh học có khả năng cung cấp một cách nhanh chóng dưỡng chất cho cây, phát huy hiệu lực của phân đa lượng, giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy các nhà nghiên cứu, các nhà sản xuất nông nghiệp đã chú trọng đầu tư nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học. Hướng tới nền sản xuất nông nghiệp sạch, các cơ quan nghiên cứu, các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế đã và đang sản xuất ra nhiều sản phẩm phân bón đa dạng, phân bón sinh học trở thành phân bón không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp do đó: Phân vi sinh, phân bón lá, phân hữu cơ cũng được ra đời và đã được sản xuất tại Việt Nam như: Công ty xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật Henco, công ty sinh hóa nông nghiệpvà thương mại Thiên Sinh,… đã cho ra thị trường nhiều loại phân bón có tác dụng đối với nhiều loại cây trồng như: NPK Lâm Thao, Super Lân,… khi chúng ta sử dụng phân bón vào sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả khả quan. Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất.

Do trên mỗi lá có hàng triệu khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng. Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao (POBEGOP,1972) 16 .4 Tổng quan khu vực nghiên cứu * Vị trí địa lý - Đề tài được tiến hành tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau: + Phía Bắc giáp với phường Quán Triều. n 10 + Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán. + Phía Tây giáp với xã Phúc Hà.

+ Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. * Địa hình Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung bình 10 - 15 0 , độ cao trung bình 50 – 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch.

Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì ta nhận thấy: - Độ pH của đất thấp điều đó chứng tỏ đất ở đây chua. - Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp. Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng.1: Kết quả phân tích mẫu đất Độ sâu tầng Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất đất (cm) Mùn N P2O5 K2O N P2O5 K2O PH 1- 10 1.7 ( Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL thái Nguyên) * Đặc điểm khí hậu: Vườn ươm trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

n 11 Nắng: Số giờ nắng cả năm là 1. Tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất (khoảng 170 - 180 giờ). Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 230C. Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2- 50C.

Nhiệt độ cao tuyệt đối là 37oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3oC. Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 1500- 2000 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8, 9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng 7 có số ngày mưa nhiều nhất. Độ ẩm không khí: Trung bình đạt khoảng 82%. Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70%.

Sự chênh lệch độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10-17%. Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc. Do nằm xa biển nên xã Quyết Thắng nói riêng và thành phố Thái Nguyên nói chung ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão.5 Một số thông tin về loài cây Xà cừ * Đặc điểm hình thái: Là cây đại mộc có thể cao từ 35–40 m, đường kính cây có khi đạt đến 2m. Cây thường xanh, tán lá rậm, cành nhiều, cành non cong xuống.

Lá kép lông chim một lần chẵn, cụm hoa chùm tán, hoa nhỏ màu trắng có 4 cánh nhỏ màu trắng dính nhau, mùa hoa tháng 4-5.Quả nang nhỏ, chín tháng 10, khi chín bung thành 4 mảnh. Vỏ cây màu xám nâu, vỏ nứt đồng tiền khoanh tròn như cái sọ nên cây còn có tên là sọ khỉ. n 12 * Đặc điểm sinh thái: Xà cừ là cây ưa sáng mọc nhanh, dễ trồng hạt nảy mầm rất khoẻ, tái sinh hạt và chồi đều mạnh. Cây tăng trưởng rất nhanh, có thể phát triển tốt trên mọi địa hình, mọi loại đất, rất phù hợp với nền đất cát của vùng ven biển miền trung Việt Nam, cây chịu hạn và gió bão rất tốt.

Đặc biệt cây có khả năng đề kháng với sâu bệnh rất cao. * Tạo cây con: - Xử lý hạt giống Hạt giống trước khi gieo được ngâm trong thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,05% trong 10 phút, sau đó vớt ra rửa sạch và ngâm hạt trong nước ấm 45 oC để nguội dần sau 10 – 12 giờ, vớt ra và ủ trong túi vải (những hạt chưa trương tiếp tục xử lý trong nước ấm). Hằng ngày rửa chua bằng nước ấm (nước sạch), túi vải ủ hạt phải luôn luôn ẩm, sau 3 – 4 ngày hạt nẩy mầm có thể đem đi gieo (những hạt chưa nẩy mầm tiếp tục ủ để hạt nẩy mầm). Chuẩn bị bầu đất Dùng túi bầu PE 10 x 15 cm đựng hỗn hợp ruột bầu.

Thành phần ruột bầu gồm 80% đất tầng AB + 20% phân hữu cơ đã hoai (phân chuồng, phân xanh, phân rác). Đất làm ruột bầu được đập sàng nhỏ trộn đều với phân và đổ vào bầu thật đầy, sau đó xếp thành luống có chiều ngang 0,8-1m, chiều dài tùy ý, khoảng cách giữa 2 luống 0,4m. Gieo hạt Trước khi gieo hạt, bầu đất phải được tưới nước đủ ẩm trước đó 1 ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng phân bón lá đến sinh trưởng cây xà cừ Khaya senegalensis giai đoạn vườn ươm" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của phân bón lá đối với sự phát triển của cây xà cừ trong giai đoạn ươm trồng. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn chỉ ra những lợi ích của việc sử dụng phân bón lá, từ đó nâng cao hiệu quả canh tác cây xanh.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp canh tác bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi trình bày các biện pháp kỹ thuật trong canh tác. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ sả panicum maximum với các mức độ phân bón khác nhau cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển của cây trồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk, để có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp bón phân trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.