Chương 1 đã trình bày tổng quan về luận án và xác định 2 câu hỏi nghiên cứu. Chương này sẽ hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và khảo cứu các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước làm cơ sở cho việc phát hiện khe hở nghiên cứu và phát triển các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu. THÂM NHẬP CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI 2. Khái niệm về thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã làm xuất hiện các ngân hàng đa quốc gia.
Đây là những ngân hàng sở hữu và kiểm soát hoạt động kinh doanh ngân hàng ở hai hay nhiều nước. Quá trình đầu tư kinh doanh của các ngân hàng này vào một quốc gia được gọi là thâm nhập của NHNNg. Thâm nhập của NHNNg có thể hiểu là quá trình mà các ngân hàng ở một quốc gia (nước đầu tư) thành lập và hoạt động tại một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) bằng hình thức mở chi nhánh, liên doanh với ngân hàng trong nước, thành lập ngân hàng con hoặc mua cổ phần thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Makino và cộng sự, 2007; Slangen và Hennart, 2008). Lý thuyết về động cơ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Có 2 quan điểm lý thuyết chính giải thích về động cơ thúc đẩy NHNNg thâm nhập vào một quốc gia đó là theo sau khách hàng và tìm kiếm cơ hội đầu tư để nâng cao lợi nhuận.
Quan điểm theo sau khách hàng cho rằng thâm nhập của NHNNg là để phục vụ khách hàng của họ khi khách hàng của ngân hàng đầu tư vào quốc gia mà NHNNg thâm nhập (Grubel, 1977). Mục tiêu của NHNNg khi thâm nhập vào một 8 quốc gia là nhằm tiếp tục duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng với các công ty mẹ tại nước đầu tư. Khi các công ty mẹ thành lập chi nhánh ở nước nhận đầu tư, NHNNg sẽ thâm nhập vào quốc gia đó để ngăn chặn các chi nhánh của các công ty này chuyển sang ngân hàng mới. Nhờ lợi thế về mối quan hệ từ trước với khách hàng tại nước đầu tư, các ngân hàng có nhiều thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng, điều này giúp giảm phí dịch vụ, cũng như giảm rủi ro cho ngân hàng.
Khách hàng của ngân hàng cũng có xu hướng duy trì mối quan hệ với các ngân hàng có mối quan hệ từ trước, nhằm tránh chi phí phát sinh từ việc phải cung cấp thông tin của mình cho ngân hàng mới (Lewis, 1991). Quan điểm thứ hai cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm cơ hội nâng cao lợi nhuận (Aliber, 1984; Goldberg và Saunder, 1981). Lập luận chính của quan điểm này là NHNNg sẽ thâm nhập vào một quốc gia nếu nhận thấy môi trường kinh doanh ở đó có triển vọng phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng. NHNNg có công nghệ vượt trội, tiềm lực tài chính mạnh, uy tín cao, nguồn nhân lực, kỹ năng quản lý và chất lượng dịch vụ tốt hơn, mạng lưới rộng khắp, kiến thức và kinh nghiệm trong hoạt động đa quốc gia, tính chuyên nghiệp trong việc phục vụ từng loại khách hàng sẽ giúp họ giành được thị phần từ các ngân hàng trong nước và thu được lợi nhuận cao hơn (Cho, 1986; Yannopoulos, 1983).
Ngoài 2 lý thuyết chính giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg nêu trên, một số lý thuyết khác cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là nhằm phân tán rủi ro. Qian và Delios (2008) nghiên cứu trong trường hợp lý thuyết đầu tư quốc tế cho rằng các ngân hàng mở rộng hoạt động quốc tế để tận dụng lợi thế trên thị trường nước ngoài và giảm thiểu những bất lợi và rủi ro tại thị trường trong nước. García- Herrero và Vazquez (2013) lập luận trong lý thuyết danh mục đầu tư rằng việc đa dạng hóa đầu tư ở các vị trí địa lý khác nhau có thể làm giảm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính do chu kỳ kinh doanh, cấu trúc lãi suất, và biến động tỷ giá hối đoái, do đó, các NHNNg sẽ thâm nhập vào ngành ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh. 9 Tóm lại, các lý thuyết giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg đều cho rằng cơ sở để một NHNNg thâm nhập vào một quốc gia là ngân hàng đó sở hữu lợi thế về công nghệ, sức mạnh tài chính, uy tín, nguồn nhân lực và kỹ năng quản trị hiệu quả, và động cơ cho việc thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận.
Nếu động cơ thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng thì NHNNg sẽ ít cạnh tranh trực tiếp đối với các ngân hàng trong nước, còn trong trường hợp động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm lợi nhuận sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớn lên các ngân hàng trong nước. Phương thức thâm nhập của ngân hàng nước ngoài NHNNg thường sử dụng 2 phương thức thâm nhập vào một quốc gia là phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới và phương thức mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Slangen và Hennart, 2008). Phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới được thực hiện dưới hình thức mở văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc ngân hàng liên doanh. Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc hoạt động trên cơ sở vốn và uy tín của ngân hàng mẹ ở nước ngoài; chi nhánh NHNNg cũng là đơn vị phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân, được NHNNg bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh NHNNg ở nước nhận đầu tư; khác với văn phòng đại diện và chi nhánh, ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động trên vốn tự có của mình.
Cerutti và cộng sự (2007) cho rằng các NHNNg sẽ hoạt động dưới hình thức chi nhánh nếu nước nhận đầu tư có quy định hạn chế NHNNg thâm nhập và có mức thuế cao hơn nước đầu tư, và hình thức ngân hàng con thường được áp dụng trong trường hợp NHNNg muốn kinh doanh bán lẻ. Trong khi đó, Makino và cộng sự (2007) cho rằng NHNNg có thể thâm nhập bằng hình thức thành lập ngân hàng liên doanh với ngân hàng trong nước, với hình thức này NHNNg sẽ tiết kiệm được chi phí điều tra thị trường, tư vấn chính sách và tìm hiểu môi trường kinh doanh có liên quan đến ngành ngân hàng trong nước. 10 Kim và Gray (2009) cho rằng nếu hoạt động của ngân hàng trong nước phát triển mạnh mẽ và văn hóa kinh doanh của ngân hàng trong nước và NHNNg không tương đồng, thì NHNNg sẽ thâm nhập bằng phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới. Ưu điểm của phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới là tránh được việc kế thừa những tồn tại từ tổ chức cũ như các hợp đồng cho vay chưa giải ngân, sự khác biệt về cơ cấu tổ chức, văn hóa kinh doanh và hệ thống công nghệ không tương thích (Dikova và Van Witteloostuijn, 2007; Slangen và Hennart, 2008).
Tuy nhiên, phương thức này có nhược điểm là NHNNg mất nhiều thời gian để am hiểu thị trường, xây dựng thương hiệu, và thiết lập mối quan hệ với khách hàng. Phương thức mua lại và sáp nhập được thực hiện thông qua việc NHNNg tiến hành mua lại và sáp nhập với một ngân hàng sẵn có trong nước. Phương thức này thường được sử dụng khi thị trường chứng khoán của nước thu hút đầu tư đã được hình thành và phát triển, các NHNNg ít am hiểu về thị trường ngân hàng nội địa (Bhaumik và Gelb, 2003). Phương thức mua lại và sáp nhập có ưu điểm là tận dụng được uy tín và lượng khách hàng sẵn có, nhưng có nhược điểm là rất khó dung hòa sự khác biệt trong văn hóa tổ chức và phương thức hoạt động giữa các bên với nhau.
Theo Van Tassel và Vishwasrao (2007) NHNNg thích thâm nhập bằng phương thức mua lại và sáp nhập hơn lập cơ sở kinh doanh mới, vì chi phí cho việc xử lý các tồn tại của tổ chức cũ trong hoạt động mua lại và sáp nhập thường thấp hơn các lợi ích có được từ việc sở hữu nguồn dữ liệu sẵn có về khách hàng, kiến thức thị trường và uy tín đã được xây dựng từ trước. Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Có 2 phương pháp đo lường thâm nhập của NHNNg là phương pháp tổng hợp và phương pháp không gian phân bổ. Phương pháp tổng hợp đo lường thâm nhập của NHNNg bằng tỷ lệ số lượng và tỷ lệ tài sản của NHNNg. Số lượng NHNNg Tỷ lệ số lượng NHNNg = Tổng số ngân hàng của toàn ngành 11 Tài sản NHNNg Tỷ lệ tài sản NHNNg = Tổng tài sản của toàn ngành Phương pháp tổng hợp được nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng (Barajas và cộng sự, 2000; Claessens và cộng sự, 2001; Claessens và Lee, 2003; Denizer, 2000; Lensink và Hermes, 2004; Lien và cộng sự, 2015; Pham và Nguyen, 2020; Manlagñit, 2011; Shen và cộng sự, 2009; Unite và Sullivan, 2003).
Phương pháp không gian phân bổ đo lường thâm nhập của NHNNg thông qua chỉ số tiếp xúc giữa NHNNg và ngân hàng trong nước. Xu (2011) là người đầu tiên đề xuất phương pháp không gian phân bổ khi xây dựng chỉ số tiếp xúc thay cho phương pháp tổng hợp, vì cho rằng phương pháp tổng hợp chỉ nắm bắt sự hiện diện của NHNNg ở phạm vi tổng thể, không phản ánh mức độ tiếp xúc về mặt địa lý của một ngân hàng cụ thể trong nước với NHNNg. Chỉ số tiếp xúc được tính bằng tỷ lệ giữa số chi nhánh NHNNg tại một địa phương với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc. Luo và cộng sự (2017) đã bổ sung cách tính chỉ số tiếp xúc để xác định chính xác mức độ tiếp xúc qua mạng lưới chi nhánh.
Chỉ số tiếp xúc chi nhánh được tính bằng tỷ lệ giữa tổng số chi nhánh NHNNg tại tất cả các địa phương mà một ngân hàng trong nước có chi nhánh với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc. Phương pháp không gian phân bổ được phát triển gần đây và chú trọng nhiều đến yếu tố tiếp xúc về mặt địa lý giữa NHNNg và ngân hàng trong nước, tuy nhiên điều kiện để áp dụng phương pháp này là trong giai đoạn nghiên cứu các NHNNg không bị giới hạn trong việc mở chi nhánh, và có đầy đủ thông tin dữ liệu về mạng lưới chi nhánh của NHNNg và ngân hàng trong nước.