phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Tình hình thực hiện công tác giải phóng m t b ng dự án Khu du lịch Vinpearl Quy Nhơn. Chƣơng 3: Đánh giá ảnh hƣởng của công tác giải phóng m t b ng thực hiện dự án Khu du lịch Vinpearl Quy Nhơn đến sinh kế của ngƣời dân và đề xuất một số giải pháp. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lý luận chung về công tác giải phóng mặt bằng - bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ trong thu hồi đất cho phát triển các dự án kinh tế 1.
Một số quan điểm về công tác bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ Vấn đề thu hồi đất (THĐ), bồi thƣờng (BT), h trợ (HT) và tái định cƣ (TĐC) là hết sức phức tạp, bởi nó ảnh hƣởng rất lớn và trực tiếp đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tập quán, tâm linh, đ c biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời dân. Thu hồi đất: Hiện nay, ở nƣớc ta có nhiều cách hiểu khác nhau về THĐ. Tuy nhiên, THĐ đƣợc khái niệm trong Luật Đất đai nhƣ sau: - THĐ là việc Nhà nƣớc ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất (QSDĐ) ho c thu lại đất đã giao cho tổ chức, cá nhân, UBND, phƣờng, thị trấn quản lý theo quy định nh m phục vụ phát triển KT-XH và lợi ích an ninh quốc gia (Điều 4, Luật đất đai 2003) [18]. - Ngoài ra, theo điều 3, Luật đất đai 2013, Nhà nƣớc THĐ là việc Nhà nƣớc quyết định thu lại QSDĐ của ngƣời đƣợc Nhà nƣớc trao QSDĐ ho c THĐ của ngƣời sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai [19].
Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn về vấn đề THĐ, Luật đất đai 2013 đã phân ra 4 nhóm THĐ (điều 61 - 65) để có quy định riêng về cơ chế xử lý đất thu hồi, tài sản trên đất thu hồi phù hợp với tính chất của từng nhóm, gồm [19]: - Nhóm 1: THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh. - Nhóm 2: THĐ để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. - Nhóm 3: THĐ do vi phạm pháp luật về đất đai. - Nhóm 4: THĐ do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con ngƣời.
Bồi thƣờng khi thu hồi đất: Bồi thƣờng khi Nhà nƣớc THĐ đã đƣợc xác định cụ thể trong Luật Đất đai 2003 và 2013. Theo đó, BT về đất đƣợc xác định là việc Nhà nƣớc trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất thu hồi cho NSDĐ (Điều 4, Luật Đất đai 2003; Điều 3, Luật Đất đai 2013) [18,19]. Đ c biệt, theo quy định mới của Luật Đất đai 2013 việc xác định mức bồi thƣờng cho ngƣời có đất bị thu hồi với sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ vào 6 loại đất, đối tƣợng SDĐ mà còn căn cứ vào thời hạn SDĐ còn lại của ngƣời sử dụng vào loại đất đó. Theo Luật Đất đai 2003 chƣa căn cứ vào thời hạn SDĐ còn lại.
Hỗ trợ khi thu hồi đất: HT khi Nhà nƣớc THĐ là việc Nhà nƣớc giúp đỡ ngƣời bị THĐ thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới (Điều 4, Luật đất đai 2003) [18]. Theo đó, để cụ thể hơn về các khoản h trợ, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, ban hành ngày ngày 03 tháng 12 năm 2004, quy định các khoản HT khi Nhà nƣớc THĐ, gồm: - H trợ di chuyển - H trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất - H trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm. - H trợ ngƣời đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nƣớc - H trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phƣờng, thị trấn - H trợ khác Ngoài ra, để chính sách h trợ cho ngƣời dân đƣợc cụ thể và bao quát hơn, Luật đất đai 2013 đã đƣa ra khái niệm nhƣ sau: HT khi Nhà nƣớc THĐ là việc Nhà nƣớc trợ giúp cho ngƣời có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Điều 3, Luật đất đai 2013) [19]. Trong đó, điểm đổi mới của NĐ 47/2014/NĐ-CP, ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2014 so với NĐ 197/2004/NĐ-CP là đã tách HT chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm thành 2 điều riêng biệt (điều 20 và điều 21) tùy theo Nhà nƣớc THĐ đất nông nghiệp hay thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà có những quy định cụ thể.
Và nghị định này còn bổ sung thêm về h trợ TĐC đối với trƣờng hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình cá nhân, ngƣời việt nam định cƣ ở nƣớc ngoài mà phải di chuyển ch ở. Tái định cƣ khi nhà nƣớc THĐ: Theo quan điểm của các nghiên cứu khoa học về định cƣ và tái định cƣ, khái niệm về tái định cƣ đƣợc hiểu là việc lập cƣ tại một ch ở mới cho một cộng đồng đã định cƣ ở một nơi khác.Trong trƣờng hợp cộng du cƣ chuyển sang sống cố định thì ngƣời ta sử dụng thuật ngữ định cƣ. Tái định cƣ có 2 dạng: + Tái định cƣ tại ch : Di chuyển nhƣng vẫn ở trong một khu vực. 7 + Tái định cƣ không tại ch : Di chuyển ch ở từ nơi này sang nơi khác.
Tuy nhiên, hiện tại pháp luật về đất đai ở Việt Nam không giải thích khái niệm về tái định cƣ. Nhƣng vẫn có nhiều văn bản quy định, giải thích về cụm từ này. Tái định cƣ là việc bố trí ch ở mới cho ngƣời bị thu hồi đất mà không còn ch ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển ch ở. Hình thức tái định cƣ bao gồm: b ng nhà ở ho c b ng đất ở.
Bên cạnh đó, có một số ý kiến cho r ng: Tái định cƣ là một khái niệm mang nội hàm khá rộng, dùng để chỉ những ảnh hƣởng tác động đến đời sống của ngƣời dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và các chƣơng trình nh m khôi phục cuộc sống của họ. Tái định cƣ bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thƣờng thiệt hại khi thu hồi đất. Tái định cƣ theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển ngƣời dân đến nơi ở mới. Nhƣ vậy, TĐC là một khâu có ý nghĩa quan trọng trong công tác GPMB, quyết định đến tiến độ của dự án.
Bởi lẽ, khi n m trong diện Nhà nƣớc THĐ thì một trong những vấn đề khiến ngƣời dân lo lắng nhất đó là tìm đƣợc ch ở mới để định cƣ sinh sống và làm việc. Hiện nay, công tác TĐC đƣợc đƣa lên trƣớc khâu THĐ để ngƣời dân có thể thu xếp đƣợc ch ở trƣớc khi giao đất cho Nhà nƣớc. Nhƣ vậy sẽ đẩy nhanh đƣợc tiến độ công tác GPMB, lấy đƣợc lòng tin của ngƣời dân vào các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta. Đặc điểm công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ trong thu hồi đất cho phát triển các dự án kinh tế Công tác BT, HT và TĐC là quá trình đa dạng và phức tạp, nó thể hiện sự khác nhau giữa các dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
Chính vì vậy, công tác BT, HT và TĐC cho phát triển các dự án kinh tế thƣờng có một số đ c điểm chính: - Tính nhạy cảm: Qua nghiên cứu, nhận thấy công tác BT, HT và TĐC liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhiều bên, gồm: Nhà nƣớc, ngƣời bị thiệt hại và nhà đầu tƣ. Trong đó, quyền của ngƣời bị THĐ phải đƣợc đ t lên hàng đầu. Ngƣời bị THĐ phải chịu thiệt thòi để dự án đƣợc tiến hành một cách nhanh hơn, thuận lợi hơn vì mục tiêu phát triển kinh tế, họ phải chấp nhận đến nơi ở mới 8 làm cho cuộc sống và công việc bị ảnh hƣởng nghiêm trọng, đòi hỏi phải có thời gian để thích nghi. Nếu công tác BT, HT và TĐC thực hiện không tốt, không công b ng, áp giá không đúng sẽ dẫn đến việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài.
Do vậy, trong công tác BT, HT và TĐC, cơ quan nhà nƣớc phải thật sự quan tâm, xử lý linh hoạt và khéo léo thông qua việc tuyên truyền vận động và ban hành các văn bản pháp luật hƣớng dẫn đầy đủ, cụ thể để cơ quan chuyên môn dễ dàng trong việc tổ chức thực hiện, hạn chế những sai sót xảy ra. Điều đó sẽ tạo niềm tin cho nhân dân, giúp cho công tác bồi thƣờng GPMB, và bố trí TĐC diễn ra thuận lợi đẩy nhanh tiến độ các dự án góp phần phát triển của đất nƣớc. - Tính đa dạng: M i một dự án GPMB, BT, HT và TĐC thƣờng đƣợc tiến hành trên nhiều vùng, khu vƣc ho c lãnh thổ khác nhau với điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội nhất định. Tùy theo từng vùng, khu vực, từng địa phƣơng mà khung giá nhà nƣớc ban hành phục vụ cho công tác BT, HT và TĐC là khác nhau và tùy theo từng dự án mà chính sách BT, HT cũng rất khác nhau.
Do vậy công tác BT, HT và TĐC đối với từng dự án cũng khác nhau. Tất cả các đ c điểm trên làm cho công tác bồi thƣờng h trợ, GPMB và tái định cƣ mang tính đa dạng. - Tính phức tạp: Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, có vai trò quan trọng trong đời sống KT - XH đối với mọi ngƣời dân. Đất đai có một vị trí riêng biệt, tùy vào từng khu vực, từng địa điểm khác nhau sẽ có mức giá khác nhau nên giá trị tính toán bồi thƣờng cũng khác nhau.
Trong quá trình thực hiện công tác BT, HT và TĐC phải áp dụng nhiều văn bản pháp luật, thông qua nhiều cấp, ban ngành để kiểm tra, thẩm định, phê duyệt. Bên cạnh đó, việc xác định, điều kiện đƣợc bồi thƣờng cũng g p không ít trở ngại vì nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau, giấy tờ về nguồn sử dụng đất còn thiếu, chƣa chính xác, các công trình xây dựng phức tạp không theo một thiết kế quy định nào.Do đó, công tác BT, HT và TĐC rất phức tạp. Hơn nữa, quá trình CNH – HĐH cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã làm cho giá đất ngày càng tăng, giá cả trên thị trƣờng liên tục biến động và giá đền bù m i thời điểm khác nhau.