Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp xi măng tại Việt Nam tiêu thụ khoảng 4 đến 5 triệu tấn thạch cao mỗi năm để làm chất điều hòa thời gian đông kết trong xi măng poóc lăng (PC). Do nguồn tài nguyên khoáng sản trong nước không có các mỏ thạch cao tự nhiên thương mại, toàn bộ lượng nguyên liệu này phải nhập khẩu từ Thái Lan, Lào và Trung Quốc với chi phí ngoại tệ gia tăng qua từng năm. Cùng thời điểm đó, quá trình sản xuất phân bón DAP và axit phosphoric tại các nhà máy hóa chất thải ra bãi chứa hơn 1,5 triệu tấn bã thải thạch cao phospho (phosphogypsum) mỗi năm, gây áp lực nặng nề lên quỹ đất và môi trường sinh thái. Việc nghiên cứu tái chế nguồn phụ phẩm công nghiệp này để thay thế một phần hoặc toàn bộ 4% đến 5% thạch cao tự nhiên trong cấp phối xi măng là đòi hỏi cấp bách.

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học của học viên Nguyễn Tiến Thuận, dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư Tiến sĩ Huỳnh Đăng Chính tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội phối hợp với Công ty Cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn năm 2019, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Đánh giá định lượng tác động của tạp chất P2O5 trong thạch cao phospho đến tính chất cơ lý và diễn biến nhiệt thủy hóa của xi măng poóc lăng PC. Mục tiêu cụ thể là xác định chính xác ngưỡng nồng độ P2O5 hòa tan tối ưu từ 0,1% đến 0,6% khối lượng thạch cao nhằm đảm bảo xi măng đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 2682:2009 mà không làm suy giảm cường độ nén 28 ngày hoặc kéo dài thời gian đông kết vượt mức cho phép.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hóa học silicat và cơ chế thủy hóa, đóng rắn của xi măng poóc lăng. Clanhke xi măng chứa 4 pha khoáng chính gồm: khoáng alite 3CaO.SiO2 (C3S) chiếm 40% đến 60%, khoáng belite 2CaO.SiO2 (C2S) chiếm 15% đến 35%, khoáng aluminat 3CaO.Al2O3 (C3A) chiếm 5% đến 15% và khoáng alumoferit 4CaO.Al2O3.Fe2O3 (C4AF) chiếm 10% đến 18%.

Khi trộn xi măng với nước, khoáng C3A phản ứng tức thời với nước gây ra hiện tượng đông kết nhanh. Sự có mặt của thạch cao dihydrat CaSO4.2H2O cung cấp ion SO4(2-) phản ứng với C3A để hình thành khoáng ettringite (3CaO.Al2O3.3CaSO4.31-32H2O), tạo màng ngăn làm chậm quá trình hydrat hóa ban đầu.

Tuy nhiên, khi thạch cao phospho chứa tạp chất P2O5 hòa tan (tồn tại ở dạng H3PO4, H2PO4- hoặc HPO4(2-)), ion phosphate sẽ phản ứng ưu tiên với ion Ca(2+) tạo thành muối canxi phosphate Ca3(PO4)2 hoặc CaHPO4.2H2O khó tan. Hiện tượng thay thế đồng hình giữa anion HPO4(2-) và SO4(2-) trong mạng lưới tinh thể thạch cao làm biến đổi tốc độ hòa tan của pha sunfat, đồng thời lớp kết tủa phosphate bao phủ bề mặt hạt khoáng C3S, ngăn cản sự phát triển của chuỗi gel C-S-H (Calcium Silicate Hydrate) - thành phần tạo nên cường độ chịu lực chính của đá xi măng.

Phương pháp nghiên cứu

Thực nghiệm sử dụng clanhke thương phẩm của Nhà máy Xi măng Vicem Bút Sơn đạt tiêu chuẩn TCVN 7024:2013 kết hợp với 2 nguồn thạch cao đối chứng: thạch cao tự nhiên nhập khẩu Thái Lan và thạch cao phospho thu gom từ nhà máy sản xuất phân bón trong nước (có hàm lượng P2O5 ban đầu khoảng 0,096%).

Để khảo sát chi tiết dải biến thiên nồng độ, nghiên cứu thiết lập cỡ mẫu thực nghiệm gồm 14 tổ mẫu cấp phối nghiền chuẩn (tỷ lệ 95% clanhke và 5% thạch cao), bổ sung hóa chất Na2HPO4 để tạo các mức hàm lượng P2O5 gia tăng lần lượt là 0,6%, 1,2%, 2,4% và 4,8% theo khối lượng thạch cao. Phương pháp chọn mẫu theo nguyên tắc phân tầng ngẫu nhiên, kiểm soát độ mịn Blaine đồng nhất ở mức 3750 đến 3820 cm2/g và lượng sót sàng 0,09 mm dưới 0,8%.

Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp phân tích tiêu chuẩn quốc gia gồm TCVN 6016:2011 (xác định cường độ nén mẫu vữa ở các tuổi 1, 3, 7 và 28 ngày trên máy nén thủy lực), TCVN 6017:2015 (xác định lượng nước tiêu chuẩn và thời gian đông kết bằng kim Vicat) và TCVN 141:2008 (phân tích thành phần hóa học) là nhằm đảm bảo tính tương thích với dây chuyền sản xuất công nghiệp.

Đặc biệt, phương pháp đo nhiệt độ thủy hóa liên tục được tiến hành trên thiết bị ghi dữ liệu tự động RH/Temperature SD Card Datalogger 800021 với chu kỳ đo 5 phút một lần trong suốt 72 giờ đầu, cho phép nhận diện chính xác các đỉnh tỏa nhiệt cực đại và thời gian trễ của giai đoạn cảm ứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực nghiệm cho thấy sự hiện diện của tạp chất P2O5 hòa tan tác động trực tiếp đến toàn bộ các chỉ tiêu kỹ thuật của xi măng poóc lăng:

  • Lượng nước tiêu chuẩn: Khi hàm lượng P2O5 bổ sung nhỏ hơn hoặc bằng 0,6% khối lượng thạch cao, lượng nước tiêu chuẩn của vữa xi măng duy trì ổn định ở mức 28,0% đến 28,2%. Khi nồng độ P2O5 vượt quá 0,6%, lượng nước tiêu chuẩn có xu hướng giảm dần: mẫu thạch cao phospho bổ sung 1,2% P2O5 giảm 2,67%; mẫu bổ sung 2,4% P2O5 giảm 3,92%; và mẫu bổ sung 4,8% P2O5 giảm tới 6,07% so với mẫu đối chứng không bổ sung.
  • Thời gian đông kết: P2O5 đóng vai trò như một chất làm chậm đông kết mạnh. Đối với mẫu sử dụng thạch cao phospho bổ sung 4,8% P2O5, thời gian bắt đầu đông kết kéo dài từ 145 phút lên 255 phút (tăng 1,76 lần) và thời gian kết thúc đông kết kéo dài từ 210 phút lên 322 phút (tăng 1,53 lần) so với mẫu đối chứng.
  • Cường độ chịu nén: Ở ngưỡng P2O5 nhỏ hơn hoặc bằng 0,6%, cường độ nén 1 ngày (R1) gần như không đổi, cường độ 3 ngày (R3) giảm 1,73%, 7 ngày (R7) giảm 2,8% và 28 ngày (R28) giảm 3,79%, vẫn đạt mác PC40 theo quy chuẩn. Tuy nhiên, khi tăng P2O5 lên mức 4,8%, cường độ nén suy giảm nghiêm trọng ở mọi ngày tuổi: R1 giảm 28,3%, R3 giảm 14,5%, R7 giảm 13,9% và R28 giảm 18,4% (tương ứng giảm từ 48,5 MPa xuống còn 39,6 MPa).
  • Nhiệt độ tỏa nhiệt thủy hóa: Nhiệt độ đỉnh cực đại của mẫu xi măng dùng thạch cao tự nhiên đối chứng đạt 59,7 độ C sau khoảng 11 giờ. Khi có mặt P2O5, nhiệt độ đỉnh cực đại giảm xuống dao động từ 55,0 độ C đến 57,6 độ C, đồng thời thời gian xuất hiện đỉnh nhiệt bị trì hoãn kéo dài thêm 4 đến 8 giờ.

Thảo luận kết quả

Cơ chế vật lý - hóa học giải thích cho sự suy giảm cường độ và kéo dài thời gian đông kết bắt nguồn từ sự thiếu hụt cục bộ ion Ca(2+) trong pha lỏng ban đầu do phản ứng kết tủa với gốc phosphate. Sự hình thành sớm của màng canxi phosphate bao quanh các hạt clanhke làm ngưng trệ quá trình giải phóng nhiệt lượng và ức chế sự kết tinh mầm của pha C-S-H sơ cấp. Ngoài ra, sự có mặt của ion phosphate hòa tan còn thúc đẩy quá trình chuyển hóa một phần khoáng alite C3S hoạt tính cao thành khoáng belite C2S biến tính chứa phospho. Pha C2S chứa phospho này có tính trơ thủy lực, không đóng góp vào cường độ chịu lực sớm và làm tăng độ xốp cấu trúc đá xi măng thêm 10% đến 12%.

Các dữ liệu thực nghiệm khi đối chiếu với công trình công bố quốc tế của Tiến sĩ Ewelina Klosek-Wawrzyn năm 2012 tại Đại học AGH (Ba Lan) trên dòng xi măng CEM I 42,5R cho thấy sự tương thích cao. Kết quả phân tích nhiệt lượng kế và giản đồ nhiễu xạ tia X (XRD) trong công trình đối sánh cũng khẳng định nồng độ phosphate dưới 0,25 gam P2O5 trên 1 kg xi măng (tương đương mức dưới 0,6% tính theo thạch cao) không gây ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tạo mầm ettringite và cấu trúc tinh thể portlandite Ca(OH)2. Toàn bộ diễn biến nhiệt độ thủy hóa theo thời gian được mô hình hóa qua các đường cong calorimetric đa đỉnh, thể hiện rõ pha cảm ứng bị kéo dài tỷ lệ thuận với hàm lượng P2O5 hòa tan bổ sung.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao cho ngành sản xuất xi măng và xử lý phế phẩm hóa chất:

  • Khống chế chỉ tiêu kỹ thuật P2O5 hòa tan: Ban hành tiêu chuẩn cơ sở quy định nghiêm ngặt hàm lượng P2O5 hòa tan trong thạch cao phospho nguyên liệu dùng cho sản xuất xi măng poóc lăng không được vượt quá 0,6% theo khối lượng thạch cao khô (tương đương dưới 0,03% theo khối lượng xi măng thành phẩm) để đảm bảo duy trì cường độ R28 trên 45 MPa.
  • Tối ưu hóa công nghệ xử lý thạch cao tại nguồn: Các nhà máy sản xuất phân bón hóa chất DAP Đình Vũ và DAP Lào Cai cần áp dụng quy trình rửa ướt 2 giai đoạn kết hợp trung hòa axit dư bằng sữa vôi Ca(OH)2 hoặc đá vôi mịn nhằm chuyển hóa toàn bộ P2O5 hòa tan sang dạng canxi phosphate không tan trước khi cung cấp cho các trạm nghiền xi măng, hoàn thành mục tiêu chuyển giao trong giai đoạn 2020 - 2025.
  • Điều chỉnh cấp phối nghiền công nghiệp: Khuyến nghị Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (Vicem) và Nhà máy Xi măng Vicem Bút Sơn triển khai phối trộn thạch cao phospho đã xử lý với thạch cao tự nhiên theo tỷ lệ khối lượng 50:50 hoặc 70:30, giúp giảm 30% đến 50% chi phí nhập khẩu thạch cao tự nhiên mà vẫn giữ thời gian bắt đầu đông kết trong khoảng 130 đến 160 phút.
  • Nâng cấp năng lực kiểm soát chất lượng tại phòng thí nghiệm: Trang bị thiết bị đo nhiệt thủy hóa bán đoạn nhiệt và hệ thống chuẩn độ quang phổ tại các nhà máy xi măng nhằm kiểm tra nhanh hàm lượng phospho hòa tan trong từng lô nguyên liệu nhập kho trong vòng 60 phút trước khi đưa vào si-lô nạp liệu máy nghiền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Kỹ sư công nghệ và chuyên gia R&D tại các nhà máy xi măng: Nắm bắt chính xác cơ chế ảnh hưởng của tạp chất photpho để thiết lập cấp phối nghiền tối ưu, tính toán phụ gia trợ nghiền và kiểm soát ổn định các chỉ tiêu cơ lý của sản phẩm xi măng PC30, PC40, PC50.
  • Doanh nghiệp sản xuất phân bón vô cơ và hóa chất: Ứng dụng các thông số khoa học để hoàn thiện dây chuyền chế biến bã thải phosphogypsum thành nguyên liệu đạt chuẩn thương phẩm, giải phóng diện tích bãi thải hàng triệu mét khối và gia tăng giá trị kinh tế tuần hoàn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Kỹ thuật Hóa học - Vật liệu Silicat: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về động học quá trình hydrat hóa, phương pháp đo nhiệt lượng thủy hóa và cơ chế thay thế đồng hình trong hóa học vô cơ.
  • Chuyên gia hoạch định chính sách và cơ quan tiêu chuẩn hóa: Cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc để bổ sung, hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia như TCVN 11833:2017 về thạch cao phospho dùng làm phụ gia điều chỉnh thời gian đông kết cho xi măng.

Câu hỏi thường gặp

  • Thạch cao phospho có thể thay thế hoàn toàn thạch cao tự nhiên trong xi măng PC không? Thạch cao phospho hoàn toàn có thể thay thế 100% thạch cao tự nhiên nếu hàm lượng tạp chất P2O5 hòa tan được kiểm soát dưới 0,6% khối lượng. Thực nghiệm tại xi măng Vicem Bút Sơn xác nhận mẫu vữa sử dụng thạch cao phospho sạch đạt cường độ nén 28 ngày trên 45 MPa, tương đương thạch cao tự nhiên.

  • Vì sao P2O5 trong thạch cao phospho lại làm kéo dài thời gian đông kết của xi măng? Ion phosphate hòa tan phản ứng ưu tiên với ion Ca(2+) trong dung dịch hồ xi măng tạo kết tủa canxi phosphate khó tan. Lớp màng này bao phủ quanh các hạt clanhke làm chậm quá trình hòa tan của C3A và C3S, kéo dài thời gian đông kết bắt đầu thêm từ 30 đến 110 phút tùy nồng độ.

  • Ngưỡng hàm lượng P2O5 hòa tan tối đa cho phép trong thạch cao phospho là bao nhiêu? Nghiên cứu chỉ ra ngưỡng giới hạn an toàn là 0,6% P2O5 hòa tan tính theo khối lượng thạch cao. Vượt quá ngưỡng này, cường độ nén 1 ngày suy giảm trên 15% và lượng nước tiêu chuẩn của vữa bị xáo trộn, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng thi công bê tông.

  • Tạp chất P2O5 ảnh hưởng như thế nào đến cường độ chịu nén ở tuổi muộn 28 ngày? Ion phosphate thúc đẩy một phần khoáng alite C3S chuyển hóa thành belite C2S biến tính chứa phospho có hoạt tính thủy lực trơ. Lượng pha khoáng trơ này làm suy giảm mật độ gel C-S-H và tăng độ xốp vi cấu trúc, khiến cường độ nén 28 ngày giảm từ 3,79% đến 18,4%.

  • Nhiệt độ thủy hóa của xi măng biến đổi ra sao khi sử dụng thạch cao phospho chứa P2O5? Sự có mặt của P2O5 làm hạ nhiệt độ đỉnh thủy hóa cực đại từ 59,7 độ C xuống khoảng 55,0 đến 57,6 độ C và kéo dài thời gian đạt đỉnh thêm 4 đến 8 giờ. Tuy nhiên, sau 48 giờ phản ứng, tổng lượng nhiệt tỏa ra giữa các mẫu đều đạt mức tương đương nhau.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa thành công ảnh hưởng của tạp chất P2O5 hòa tan trong thạch cao phospho đến tính chất cơ lý và diễn biến thủy hóa của xi măng poóc lăng PC.
  • Xác lập ngưỡng kỹ thuật giới hạn của hàm lượng P2O5 hòa tan ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 0,6% khối lượng thạch cao để duy trì cường độ nén và thời gian đông kết đạt chuẩn TCVN 2682:2009.
  • Chứng minh cơ chế kìm hãm thủy hóa ban đầu qua hệ thống dữ liệu nhiệt độ liên tục 72 giờ, ghi nhận sự hạ thấp đỉnh nhiệt cực đại từ 59,7 độ C xuống 55,0 độ C do màng ngăn canxi phosphate.
  • Mở ra giải pháp xử lý triệt để hàng triệu tấn bã thải thạch cao phospho tại các nhà máy phân bón DAP, thay thế nguồn thạch cao tự nhiên nhập khẩu và tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí nguyên liệu mỗi năm.
  • Kế hoạch tiếp theo cần tập trung triển khai thử nghiệm cấp phối nghiền công nghiệp quy mô lớn tại Nhà máy Xi măng Vicem Bút Sơn và ứng dụng phương pháp quét kính hiển vi điện tử SEM kết hợp đo vi nhiệt lượng microcalorimetry để tối ưu hóa hoàn toàn quy trình công nghệ.