Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn lên một số chỉ số sinh học ở người trong môi trường lao động quân sự và đề xuất biện pháp khắc phục" do nghiên cứu sinh Phạm Xuân Ninh thực hiện thuộc chuyên ngành Y học lao động và Vệ sinh học quân sự (tiếp cận theo hướng nghiên cứu thực nghiệm định lượng kết hợp khảo sát dịch tễ học y học lao động).

Về tính cấp thiết, Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng nóng và ẩm, hàng năm có tới 233 ngày nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm từ 22°C đến 27°C, độ ẩm tương đối dao động từ 70% đến 95%, riêng mùa hè nhiệt độ không khí ngoài trời thường xuyên lên mức 37°C đến 38°C. Trong môi trường quân sự, hoạt động huấn luyện, trực chiến và lao động kỹ thuật tại các quân binh chủng như tăng - thiết giáp, không quân, công binh có cường độ cao, không gian chật hẹp, tư thế thao tác gò bó và phải chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố vật lý bất lợi gồm nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, tiếng ồn vượt tiêu chuẩn, rung xóc và bụi. Những yếu tố này gây ảnh hưởng trực tiếp đến thể lực, gây mệt mỏi, làm suy giảm thính lực và dẫn đến các bệnh nghề nghiệp.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình y học lao động trước đây thường chỉ khảo sát tác động riêng rẽ của từng yếu tố môi trường (chẳng hạn khảo sát riêng trạng thái nhiệt khi lao động trong môi trường nóng ẩm hoặc khảo sát riêng tác hại của tiếng ồn đối với thính lực của phi công, thợ máy). Các công trình nghiên cứu hệ thống về tác động phối hợp của vi khí hậu nóng ẩm và tiếng ồn cường độ lớn lên cơ thể người lao động trong môi trường quân sự còn rất hạn chế, dẫn đến việc thiếu cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp bảo hộ và can thiệp y học dự phòng đồng bộ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 3 nội dung:

  1. Xác định ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn lên một số chỉ số sinh học của bộ đội lái xe tăng trong lao động và khả năng thích nghi, chịu đựng với nóng của cơ thể trong phòng nhiệt thực nghiệm.
  2. Xác định mức độ nóng ẩm và tiếng ồn ở một số phân xưởng sửa chữa máy bay, đường hầm đang xây dựng và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến thính lực của người lao động.
  3. Đề xuất một số biện pháp phòng chống nóng và tiếng ồn nhằm bảo vệ sức khỏe cho người lao động.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 3 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số sinh lý, hoá sinh trong điều kiện nóng, ẩm của các đối tượng là bộ đội lái xe tăng và thanh niên bước bục trong phòng nhiệt thực nghiệm.
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng phối hợp của nhiệt độ, độ ẩm và tiếng ồn đến thính lực của công nhân sửa chữa máy bay và bộ đội xây dựng đường hầm.
  3. Nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp phòng chống nóng và tiếng ồn nhằm cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm chính với tổng số 479 người:
    • Nhóm 1 (n = 202): Gồm bộ đội lái xe tăng (học viên, trợ giáo tại Trường Sỹ quan và Hạ sỹ quan Thiết giáp) và thanh niên thực hiện nghiệm pháp bước bục trong phòng nhiệt thực nghiệm.
    • Nhóm 2 (n = 277): Gồm công nhân sửa chữa máy bay (tại nhà máy sửa chữa máy bay AN-26) và bộ đội xây dựng đường hầm quân sự (khoan đá, cào vơ đất đá).
  • Không gian và thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại các đơn vị quân đội và hiện trường lao động đặc thù (buồng lái xe tăng T-54, phân xưởng và trạm thử nghiệm động cơ máy bay AN-26, công trường thi công đường hầm quân sự) và phòng nhiệt thực nghiệm y sinh học, trong các điều kiện mùa hè (nắng nóng) và mùa mát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến các hướng nghiên cứu chính:

Hướng nghiên cứu về vi khí hậu nóng ẩm và đáp ứng nhiệt của cơ thể: Tác giả tổng quan các công trình về cơ chế điều nhiệt và chuyển hóa khi cơ thể chịu gánh nặng nhiệt. Yaglou C. (1947) đã xây dựng chỉ số nhiệt độ tổng hợp WBGT ($T_{wbgt} = 0,7 T_u + 0,2 T_c + 0,1 T_k$), được Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO 7243) sử dụng để đánh giá stress nhiệt. Burton (1935) đưa ra phương pháp xác định nhiệt độ trung bình da 3 điểm và công thức tính lượng trữ nhiệt của cơ thể ($D = 0,83 \cdot P \cdot \Delta t / S$). Afanasieva R. và CS. (1992) đề xuất phương pháp đo nhiệt độ da nhiều điểm.

Tại Việt Nam, Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên (1982) và Nguyễn Tấn Gi Trọng (1975) đã công bố hệ thống hằng số sinh học người Việt Nam. Đào Ngọc Phong (1983, 1994, 1998, 2000) nghiên cứu sự thích nghi nóng ẩm, chỉ ra nồng độ NaCl trong mồ hôi người Việt Nam dao động từ 1,17 g/l đến 2,9 g/l (thấp hơn người phương Tây từ 12 g/l đến 13,7 g/l). Nguyễn Mạnh Liên (1970, 1975, 1984, 1998) nghiên cứu biến đổi thân nhiệt, bài tiết mồ hôi của công nhân đúc gang và bộ đội xe tăng, không quân. Tô Như Khuê (1970, 1971, 1978, 1984) khảo sát sinh lý lao động quân sự, chỉ số mạch của bộ đội khi hành quân mùa hè (128 nhịp/phút) và rèn luyện trong buồng nhiệt (168 nhịp/phút). Đỗ Công Huỳnh và CS. (1996, 1999) phân tích chuyển hóa năng lượng và phản ứng của trục hạ đồi - tuyến yên - thượng thận dưới tác động của stress nhiệt. Về khả năng rèn luyện thích nghi, Pafnote Maria (1976) và một số tác giả quốc tế chỉ ra trạng thái thích nghi nhiệt được hình thành sau 7 đến 10 ngày hoặc 2 tuần rèn luyện.

Hướng nghiên cứu về tiếng ồn và bệnh điếc nghề nghiệp: Tác giả điểm lại các nghiên cứu đo đạc tiếng ồn khí tài quân sự và công nghiệp: Vorobiov và CS. (1961) đo tiếng ồn máy bay Tu-104 (124 dBA ở khoảng cách 30m), IL-14 (114 dBA). Vũ Đình Cán, Đỗ Văn Bảng (1980) khảo sát tiếng ồn động cơ máy bay MiG-21 ở chế độ tăng lực toàn phần đạt 130 dBA. Phạm Đức Nguyên và CS. (1982) ghi nhận tiếng ồn máy bay Su-22 đạt 140-145 dBA, xe tăng từ 97 đến 115 dBA. Nguyễn Mạnh Liên, Lê Khắc Đức và CS. đo cường độ tiếng ồn trên xe tăng T-54 (114,2 dBA), T-34 (112,8 dBA), M-41 (103,4 dBA), M-113 (113,1 dBA), đều vượt tiêu chuẩn cho phép 20-30 dB. Lê Trung và CS. (1990, 1993, 1994, 2000, 2002), Nguyễn Thị Toán (1994) tổng kết các giai đoạn lâm sàng của điếc nghề nghiệp (thích ứng, tiềm tàng, rõ rệt), đặc điểm tổn thương cơ quan Corti ở dải tần số cao (chủ yếu là 4096 Hz) và các phương pháp giám định thính lực theo thang Fowler-Sabine, Fellman-Lessing.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu đơn lẻ về nhiệt ẩm và tiếng ồn đã có nhiều, nhưng việc đánh giá tác động đồng thời của môi trường vi khí hậu nóng ẩm kết hợp tiếng ồn cường độ cao trên cùng đối tượng lao động quân sự thực tế (bộ đội xe tăng T-54, bộ đội đào hầm, công nhân máy bay AN-26) chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thu thập số liệu thực nghiệm toàn diện về sinh lý, hóa sinh, thính lực và đánh giá hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật bảo hộ tại hiện trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết cân bằng nhiệt và điều nhiệt: Dựa trên cơ chế trao đổi nhiệt giữa cơ thể và môi trường qua 4 con đường (dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ, bốc hơi mồ hôi). Trong điều kiện nóng ẩm, thải nhiệt bằng bốc hơi mồ hôi là chủ yếu (tỷ nhiệt bốc hơi mồ hôi đạt 0,580 Kcal/g). Điều hòa thân nhiệt được điều khiển bởi trung tâm dưới đồi (hypothalamus) thông qua điều hòa lý học (vận mạch ngoại vi, tiết mồ hôi) và điều hòa hóa học (chuyển hóa năng lượng).
  • Lý thuyết đáp ứng stress và chuyển hóa năng lượng: Tác động của nhiệt độ cao kích thích trục hạ đồi - tuyến yên - vỏ thượng thận làm tăng bài tiết ACTH, cortisol và aldosteron (tăng tái hấp thu $Na^+$ tại tuyến mồ hôi). Mệt mỏi cơ bắp trong lao động nặng mùa nóng liên quan đến tích tụ acid lactic và giảm dự trữ creatin phosphat (phân giải thành creatinin đào thải qua nước tiểu).
  • Cơ chế tổn thương thính giác do vi chấn thương âm: Tiếng ồn vượt ngưỡng 85 dBA tác động kéo dài gây thoái hóa tế bào lông của cơ quan Corti tai trong, dẫn đến điếc tiếp âm không hồi phục ở tần số 4096 Hz qua 3 giai đoạn: thích ứng, tiềm tàng và rõ rệt.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp định lượng thực nghiệm kết hợp khảo sát dịch tễ học vệ sinh y học lao động:

[Khảo sát môi trường] ---> Đo Vi khí hậu (To, Độ ẩm, Gió, WBGT) + Đo Tiếng ồn (dBA) + Đo Bụi (mg/m3)
[Khảo sát sinh học]   ---> Sinh lý: Mạch, Nhiệt độ trực tràng, Nhiệt độ da, Lượng trữ nhiệt
                           Hóa sinh: Mồ hôi, Điện giải (Na+, Cl-), Acid lactic, Creatinin niệu
                           Thính lực: Thính lực đồ âm, Thính lực đồ lời (Fowler-Sabine, Fellman-Lessing)
[Nghiên cứu can thiệp] ---> Lắp quạt xe tăng T-54 / Dời trạm thử động cơ 500m / Cáp tai 372-8A / Rèn luyện phòng nhiệt
  1. Phương pháp đo đạc môi trường lao động:

    • Đo nhiệt độ không khí khô ($T_k$), nhiệt độ ướt ($T_u$), nhiệt độ cầu ($T_c$), độ ẩm tương đối và tốc độ gió theo quy chuẩn của Bộ Y tế.
    • Tính toán chỉ số nhiệt độ tổng hợp WBGT theo công thức Yaglou.
    • Đo cường độ tiếng ồn nơi làm việc bằng máy đo độ ồn chuyên dụng theo thang đo dBA.
    • Đo nồng độ bụi toàn phần ($mg/m^3$) tại các vị trí thi công đường hầm.
  2. Phương pháp đo đạc sinh lý và hóa sinh:

    • Đo tần số mạch (nhịp/phút) ở các thời điểm trước lao động (TLĐ), trong lao động, ngay sau lao động (SLD) và theo dõi hồi phục mạch.
    • Đo nhiệt độ trung tâm: Đo nhiệt độ trực tràng và nhiệt độ dưới lưỡi ($t_{\text{dưới lưỡi}} = t_{\text{trực tràng}} - 0,37^\circ\text{C} \pm 0,02^\circ\text{C}$).
    • Đo nhiệt độ bề mặt da và tính nhiệt độ trung bình da theo công thức Afanasieva hoặc công thức Burton 3 điểm (ngực, cẳng tay, bắp chân).
    • Tính lượng trữ nhiệt cơ thể ($D$, đơn vị $Kcal/m^2$) theo công thức Burton: $D = \frac{0,83 \cdot P \cdot \Delta t}{S}$.
    • Đo lượng mồ hôi mất qua phương pháp cân trọng lượng cơ thể trước và sau lao động.
    • Xét nghiệm hóa sinh: Định lượng nồng độ $Na^+$ trong mồ hôi; định lượng acid lactic trong máu, mồ hôi và nước tiểu; định lượng creatinin niệu 24 giờ (mg/24 giờ).
  3. Phương pháp thực nghiệm phòng nhiệt:

    • Thực hiện trên đối tượng thanh niên khỏe mạnh làm nghiệm pháp bước bục trong phòng nhiệt thực nghiệm theo chu trình 10 ngày để đánh giá khả năng thích nghi và sức chịu đựng nhiệt khi nâng dần chỉ số WBGT.
  4. Phương pháp đánh giá chức năng thính giác:

    • Kiểm tra thính lực bằng máy đo thính lực đơn âm và thính lực lời; phân tích thính lực đồ ở các dải tần số từ 125 Hz đến 8000 Hz (đặc biệt chú ý tần số 4096 Hz); đánh giá mức độ suy giảm thính lực theo thang Fowler-Sabine và bảng tổn thương cơ thể Fellman-Lessing.
  5. Kỹ thuật xử lý số liệu:

    • Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê y học EPI INFO (Version 6.00).
    • Tính toán các giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn (SD), kiểm định sai khác bằng kiểm định t-Student với các mức ý nghĩa thống kê $p > 0,05$, $p < 0,05$, $p < 0,01$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật chi tiết toàn bộ các cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của nhiệt độ, độ ẩm cao và tiếng ồn lớn lên cơ thể người. Tác giả phân tích cụ thể:

  • Ảnh hưởng của nhiệt ẩm cao đến chuyển hóa glucid, lipid, protid, làm tăng tiêu hao năng lượng (phân loại lao động: nhẹ 1200-1500 Kcal/8h, vừa 1600-2000 Kcal/8h, nặng 2100-3000 Kcal/8h, cực nặng >3000 Kcal/8h).
  • Tác động lên hệ thống tim mạch (tăng nhịp tim, thay đổi huyết áp, nguy cơ quá tải tuần hoàn) và hệ thần kinh trung ương (kéo dài thời gian phản xạ, giảm chú ý, gây mệt mỏi sớm).
  • Mức độ bài tiết mồ hôi và mất cân bằng điện giải ($Na^+, Cl^-$), phân tích vai trò của aldosteron và cortisol.
  • Các giải pháp vệ sinh lao động chống nóng: Rèn luyện thích nghi, chế độ bù nước (uống từng ngụm nhỏ 150ml mỗi 15-20 phút, bổ sung muối 0,1% hoặc dùng nước rau muống/rau sam pha 2,5 g/l NaCl, sirô mơ), trang phục bảo hộ tráng nhôm, thông gió làm mát.
  • Tổng quan về tiếng ồn quân sự (xe tăng T-54, máy bay MiG-21, Su-22, AN-26) và cơ chế bệnh sinh của điếc nghề nghiệp qua 3 giai đoạn: thích ứng (giảm thính lực tạm thời ở 4096 Hz), tiềm tàng (khuyết chữ V trên thính lực đồ ở 4000 Hz), rõ rệt (điếc tiếp âm tổn thương sang các tần số sinh hoạt).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu cho 2 nhóm đối tượng:

  • Nhóm 1: 202 đối tượng gồm bộ đội lái xe tăng T-54 (nghiên cứu tại hiện trường trong điều kiện xe đứng, xe chạy, có bật quạt và không bật quạt) và thanh niên bước bục trong buồng khí hậu nhân tạo (theo dõi trong 10 ngày rèn luyện với nhiệt độ tăng dần).
  • Nhóm 2: 277 đối tượng gồm công nhân tại các phân xưởng sửa chữa máy bay AN-26, trạm thử nghiệm động cơ và bộ đội trực tiếp đào, khoan đá trong công trình ngầm.
  • Thiết lập quy trình thu thập mẫu nước tiểu, máu, mồ hôi để định lượng creatinin, acid lactic, điện giải; quy trình đo thính lực học và quy trình xử lý số liệu bằng phần mềm EPI INFO 6.00.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và khảo sát thực địa:

  1. Ảnh hưởng của môi trường nhiệt ẩm lên bộ đội lái xe tăng (Nhóm 1):
    • Vi khí hậu buồng lái xe tăng T-54 vào mùa hè: Khi xe đóng kín cửa và hoạt động, nhiệt độ trong xe cao hơn ngoài trời từ 5°C đến 10°C; chỉ số WBGT trong khoảng 14-16 giờ đạt mức gây căng thẳng nhiệt nghiêm trọng.
    • Biến đổi sinh lý và hóa sinh: Tần số mạch, nhiệt độ dưới lưỡi, nhiệt độ da, lượng trữ nhiệt và nồng độ acid lactic, creatinin niệu tăng cao rõ rệt trong mùa nóng so với mùa mát ($p < 0,05$).
Chỉ số theo dõi (Sau lao động) Xe không lắp quạt ($\bar{X} \pm SD$) Xe có lắp quạt ($\bar{X} \pm SD$) Mức ý nghĩa ($p$)
Tần số mạch (nhịp/phút) $133,75 \pm 4,33$ $133,20 \pm 4,29$ $p > 0,05$
Nhiệt độ dưới lưỡi (°C) $37,75 \pm 0,34$ $37,23 \pm 0,25$ $p < 0,05$
Nhiệt độ da (°C) $36,12 \pm 0,43$ $35,50 \pm 0,42$ $p < 0,05$
Lượng trữ nhiệt ($Kcal/m^2$) $41,33 \pm 4,27$ $27,79 \pm 3,94$ $p < 0,01$
Mồ hôi còn lại trên da (g) $333,75 \pm 43,34$ $170,35 \pm 23,25$ $p < 0,01$
Creatinin niệu 24h (mg) $198,66 \pm 13,54$ $179,84 \pm 8,12$ $p < 0,05$
  • Động học bài tiết Creatinin niệu trong các điều kiện:
Thời điểm theo dõi Mùa mát ($n = 32$) ($\bar{X} \pm SD$) Mùa nóng ($n = 32$) ($\bar{X} \pm SD$) So sánh thống kê
Trước lao động (1) $167,50 \pm 5,90$ mg $184,40 \pm 10,20$ mg $P_{1-2} > 0,05$ (mát)
Sau lao động (2) $179,00 \pm 8,12$ mg $215,80 \pm 12,35$ mg $P_{1-2} < 0,05$ (nóng), $P_{a-b} < 0,05$
  1. Khả năng thích nghi và chịu đựng của thanh niên trong phòng nhiệt (Nhóm 1):

    • Qua 10 ngày rèn luyện bước bục với nhiệt độ tăng dần: Tần số mạch và nhiệt độ trực tràng tăng chậm hơn, lượng trữ nhiệt giảm, lượng mồ hôi bài tiết tăng lên trong khi nồng độ ion $Na^+$ trong mồ hôi giảm xuống, chứng tỏ cơ chế điều nhiệt và giữ muối của cơ thể được cải thiện.
  2. Ảnh hưởng của tiếng ồn máy bay AN-26 và hiệu quả can thiệp (Nhóm 2):

    • Cường độ tiếng ồn tại khu vực sửa chữa và thử nghiệm động cơ máy bay AN-26 đo được từ 97,5 dBA đến 105,5 dBA (vượt tiêu chuẩn 85 dBA).
    • Tỷ lệ giảm thính lực của công nhân tăng thuận theo tuổi đời và tuổi nghề làm việc.
    • Đánh giá can thiệp kỹ thuật: Di chuyển trạm thử nghiệm động cơ ra xa khu vực nhà xưởng 500m đã làm giảm cường độ tiếng ồn tại nhà xưởng xuống mức 76,4 - 83,2 dBA (đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép).
    • Đánh giá phương tiện bảo hộ: Sử dụng cáp tai chống ồn 372-8A giúp bảo vệ thính lực rõ rệt cho công nhân kỹ thuật.
  3. Tác động phối hợp của nhiệt ẩm, tiếng ồn và bụi tại công trường xây dựng đường hầm (Nhóm 2):

    • Cường độ tiếng ồn do máy khoan đá khí nén phát ra trong hầm đạt 110 - 115 dBA.
    • Nồng độ bụi trong đường hầm ở mức rất cao: Khoan 1 máy đạt $1850\ mg/m^3$, khoan 2 máy đạt $2200\ mg/m^3$, máy cào vơ đạt $1672\ mg/m^3$ (giới hạn cho phép đối với bụi đất đá là $15\ mg/m^3$).
    • Sự kết hợp giữa vi khí hậu nóng ẩm, không gian kín và tiếng ồn lớn làm gia tăng nghiêm trọng tỷ lệ suy giảm thính lực ở bộ đội đào hầm:
Thời gian tiếp xúc trong đường hầm Tỷ lệ giảm thính lực (%)
Sau 1 năm làm việc 41,7%
Sau 2 năm làm việc 97,0%

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích sâu các cơ chế sinh lý học và vệ sinh học:

  • Phân tích cơ chế biến đổi các chỉ số sinh lý (mạch, nhiệt độ lõi, nhiệt độ da) và hóa sinh (acid lactic, creatinin niệu) phản ánh tình trạng căng thẳng nhiệt và mệt mỏi cơ bắp của lái xe tăng T-54 trong mùa hè. Tác giả khẳng định luồng gió cưỡng bức từ quạt lắp trong buồng lái giúp tăng tốc độ bốc hơi mồ hôi, giải tỏa lượng trữ nhiệt tích lũy.
  • Bàn luận về tính chất thích nghi nhiệt hình thành sau 7-10 ngày rèn luyện: Trung khu điều nhiệt nhạy bén hơn, ngưỡng tiết mồ hôi hạ thấp, tuyến mồ hôi tăng tái hấp thu $Na^+$ dưới tác dụng của aldosteron giúp chống mất muối.
  • Bàn luận về tác động cộng hưởng bất lợi giữa tiếng ồn 110-115 dBA và môi trường nóng ẩm, nồng độ bụi cao trong không gian kín đường hầm: Nhiệt độ cao làm tăng chuyển hóa và tuần hoàn ngoại vi nhưng trong môi trường ồn kéo dài lại gây co thắt và tắc mạch nuôi dưỡng cơ quan Corti, đẩy nhanh quá trình thoái hóa tế bào lông cảm giác, khiến 97% bộ đội khoan đá bị giảm thính lực chỉ sau 2 năm tiếp xúc.
  • Đánh giá tính khả thi và giá trị thực tiễn của các giải pháp giảm ồn (khoảng cách 500m đối với trạm thử máy bay, cáp tai 372-8A) và chống nóng (quạt xe tăng).

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp khoa học mới

  1. Cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện về ảnh hưởng phối hợp của nhiệt độ, độ ẩm cao và tiếng ồn lớn lên trạng thái chức năng sinh lý, hóa sinh và cơ quan thính giác của người lao động trong môi trường quân sự đặc thù (xe tăng, công trình ngầm, sửa chữa máy bay).
  2. Xác định được động học thích nghi và giới hạn chịu đựng nhiệt của thanh niên Việt Nam trong điều kiện thực nghiệm buồng nhiệt, làm cơ sở khoa học cho công tác huấn luyện thể lực và rèn luyện thích nghi vi khí hậu trong quân đội.
  3. Làm sáng tỏ sự biến đổi của các chỉ số sinh hóa chuyên biệt (creatinin niệu, acid lactic, điện giải mồ hôi) trong đánh giá mức độ căng thẳng nhiệt và mệt mỏi sinh lý ở bộ đội thiết giáp.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Giải pháp cho lực lượng Tăng - Thiết giáp: Trang bị và lắp đặt quạt thông gió cưỡng bức trong buồng lái xe tăng T-54 nhằm tăng cường thải nhiệt đối lưu và bay hơi mồ hôi, giảm tích trữ nhiệt và hạn chế tăng creatinin niệu cho lái xe trong mùa hè.
  2. Giải pháp cho ngành Kỹ thuật Không quân: Quy hoạch vị trí trạm thử nghiệm động cơ máy bay AN-26 cách xa khu vực nhà xưởng sản xuất tối thiểu 500m để giảm cường độ tiếng ồn lan truyền từ mức 97,5 - 105,5 dBA xuống dưới 85 dBA (76,4 - 83,2 dBA); bắt buộc trang bị và sử dụng cáp tai chống ồn 372-8A cho nhân viên kỹ thuật tiếp xúc trực tiếp với tiếng ồn động cơ.
  3. Giải pháp cho lực lượng Công binh xây dựng công trình ngầm: Cải thiện hệ thống thông gió hầm lò để giảm nồng độ bụi ($1672 - 2200\ mg/m^3$) và giảm tải nhiệt ẩm; thực hiện luân chuyển vị trí lao động và áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp bảo vệ cơ quan thính giác nhằm hạn chế nguy cơ điếc nghề nghiệp (khi tỷ lệ tổn thương đạt tới 97% sau 2 năm).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Các khảo sát thực địa mới tập trung chủ yếu trên một số loại vũ khí, khí tài và loại hình lao động quân sự cụ thể (xe tăng T-54, máy bay vận tải AN-26, thi công hầm đá); chưa bao quát hết các quân binh chủng kỹ thuật cao khác như hải quân tàu ngầm, tên lửa, pháo binh hay radar.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi dài hạn tình trạng suy giảm thính lực và các bệnh lý mạn tính liên quan đến stress nhiệt ở các nhóm cựu quân nhân; nghiên cứu thử nghiệm các trang phục bảo hộ vi khí hậu cá nhân gắn thiết bị làm mát chủ động cho kíp xe chiến đấu và phi công.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Y học lao động, Vệ sinh học quân sự, Sinh lý học người và Ecgônômi; cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu phối hợp giữa thực nghiệm buồng nhiệt và khảo sát thực địa hiện trường quân sự phức tạp.
  • Đối với chỉ huy đơn vị và ngành Quân y: Cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp để xây dựng chế độ huấn luyện thể lực, rèn luyện thích nghi nhiệt cho chiến sĩ mới (chu trình 7-10 ngày), chế độ bổ sung nước - muối khoáng trong hành quân mùa hè và quy chuẩn an toàn lao động trong bảo dưỡng vũ khí trang bị kỹ thuật.
  • Đối với công tác an toàn vệ sinh lao động dân sự: Các mô hình can thiệp giảm ồn (khoảng cách 500m) và giải pháp chống nóng trong không gian kín có thể ứng dụng cho công nhân khai thác mỏ hầm lò, công nhân luyện kim và cơ khí chế tạo máy.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ giảm thính lực của bộ đội thi công đường hầm diễn biến như thế nào theo thời gian tiếp xúc với tiếng ồn? Theo kết quả khảo sát tại hiện trường thi công hầm (với cường độ tiếng ồn máy khoan đá đạt 110 - 115 dBA kết hợp nhiệt ẩm cao và bụi), tỷ lệ bộ đội bị giảm thính lực sau 1 năm tiếp xúc là 41,7%, và sau 2 năm tiếp xúc con số này tăng lên đến 97,0%.

2. Giải pháp di chuyển vị trí trạm thử nghiệm động cơ máy bay AN-26 mang lại hiệu quả giảm ồn cụ thể ra sao? Việc di chuyển trạm thử nghiệm động cơ máy bay ra vị trí cách xa khu vực nhà xưởng sản xuất 500m đã làm giảm cường độ tiếng ồn tác động đến khu vực nhà xưởng từ mức 97,5 - 105,5 dBA xuống còn 76,4 - 83,2 dBA, đưa mức ồn môi trường về dưới tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép (< 85 dBA).

3. Việc lắp quạt thông gió trong xe tăng T-54 làm thay đổi các chỉ số sinh lý, hóa sinh của lái xe sau lao động như thế nào? So sánh giữa xe có lắp quạt và không lắp quạt sau ca lao động mùa hè cho thấy nhóm lái xe trong xe có quạt có các chỉ số thấp hơn rõ rệt: nhiệt độ dưới lưỡi đạt $37,23 \pm 0,25^\circ\text{C}$ (so với $37,75 \pm 0,34^\circ\text{C}$, $p < 0,05$), nhiệt độ da đạt $35,50 \pm 0,42^\circ\text{C}$ (so với $36,12 \pm 0,43^\circ\text{C}$, $p < 0,05$), lượng trữ nhiệt đạt $27,79 \pm 3,94\ Kcal/m^2$ (so với $41,33 \pm 4,27\ Kcal/m^2$, $p < 0,01$), mồ hôi đọng lại là $170,35 \pm 23,25\text{g}$ (so với $333,75 \pm 43,34\text{g}$, $p < 0,01$) và creatinin niệu là $179,84 \pm 8,12\text{mg}$ (so với $198,66 \pm 13,54\text{mg}$, $p < 0,05$).

4. Khả năng thích nghi nhiệt của cơ thể thay đổi như thế nào sau 10 ngày rèn luyện trong phòng nhiệt thực nghiệm? Sau chu trình 10 ngày rèn luyện bước bục với nhiệt độ nâng dần trong phòng nhiệt thực nghiệm, cơ thể hình thành trạng thái thích nghi: tần số mạch và nhiệt độ trực tràng tăng chậm và ổn định hơn trước gánh nặng nhiệt, khả năng sinh công bền bỉ hơn, lượng mồ hôi bài tiết tăng lên trong khi nồng độ muối ($Na^+$) trong mồ hôi giảm đi rõ rệt.

5. Giới hạn tiếng ồn cho phép tại nơi làm việc ở Việt Nam được quy định là bao nhiêu và tác hại khi vượt ngưỡng kéo dài là gì? Giới hạn tiếng ồn cho phép tại nơi làm việc trong ca lao động 8 giờ theo quy chuẩn vệ sinh lao động Việt Nam là 85 dBA. Việc tiếp xúc liên tục với tiếng ồn vượt quá giới hạn này trong thời gian trên 3 tháng sẽ gây tổn thương không hồi phục ở các tế bào lông thuộc cơ quan Corti tai trong, dẫn đến bệnh điếc nghề nghiệp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Xuân Ninh là công trình nghiên cứu thực nghiệm định lượng kết hợp dịch tễ học vệ sinh lao động, phản ánh toàn diện tác động phối hợp của nhiệt độ, độ ẩm cao và tiếng ồn lớn lên thể lực, các chỉ số sinh lý - hóa sinh và cơ quan thính giác của quân nhân. Nghiên cứu đã cung cấp các bằng chứng định lượng chính xác về tình trạng căng thẳng nhiệt ở bộ đội xe tăng, mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại xưởng sửa chữa máy bay và tỷ lệ suy giảm thính lực lên tới 97% ở bộ đội đào hầm sau 2 năm. Đồng thời, luận án đã kiểm chứng và đề xuất thành công các giải pháp kỹ thuật can thiệp thiết thực gồm lắp quạt buồng lái xe tăng T-54, dời trạm thử nghiệm động cơ máy bay ra xa 500m và sử dụng cáp tai chống ồn 372-8A nhằm bảo vệ sức khỏe và duy trì sức chiến đấu cho bộ đội.