Mở đầu: Gồm 3 trang (2). Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước: Gồm 19 trang (3). Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu: Gồm 11 trang (4). Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Gồm 30 trang (5).
Kết luận và đề nghị: Gồm 2 trang Tài liệu tham khảo: Gồm 5 trang với 25 tài liệu tiếng Việt và 18 tài liệu tiếng Anh. Phần phụ lục: Gồm một số hình ảnh hoạt động của đề tài và các tài liệu có liên quan. 4 CHUƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài.
Để việc sử dụng phân bón nano cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng xấu tới cây trồng và môi trường chúng ta cần quan tâm tìm ra quy trình bón phân phù hợp với đặc điểm của từng loại cây và đất trồng nó. Việc sử dụng phân bón nano hợp lý cho cây trồng cần được xây dựng trên cơ sở những yêu cầu cơ bản như: (1) Phân bón nano có kích thuớc nhỏ giúp cây trồng dễ dàng hấp thu đầy đủ và kịp thời chất dinh duỡng cần thiết để cho năng suất cao, phẩm chất tốt. (2) Sử dụng phân bón nano sẽ hạn chế tối thiểu và dần đi đến việc không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng, không tồn dư các hoá chất độc hại trong đất nhằm ổn định và nâng cao độ phì của đất (3) Tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho người sản xuất trên cơ sở giúp giảm luợng phân bón, hoá chất dùng trong nông nghiệp. Hiện nay, những hạn chế chính trong tập quán bón phân của nguời sản xuất ngô là: bón phân cho cây ngô theo kinh nghiệm, bón không cân đối, không đầy đủ các yếu tố dinh duỡng, lạm dụng phân vô cơ, lạm dụng đạm, bón theo khả năng kinh tế của mỗi gia đình đã dẫn đến tình trạng không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cây, trong khi ngô lại là những cây hút luợng chất dinh duỡng rất lớn.
Vì vậy, nếu sử dụng hợp lý phân bón nano sẽ khắc phục đuợc các nhuợc điểm của việc sử dụng phân bón theo kinh nghiệm giúp gia tăng năng suất, hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô và góp phần bảo vệ môi truờng. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô còn là cây trồng được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin học. vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997) [17] Do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Khu vực (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) Châu Á 60,69 50,01 303,55 Châu Mỹ 68,26 77,16 526,69 Châu Âu 18,71 68,90 128,89 Châu Phi 37,05 21,05 78,01 (Nguồn FAOSTAT, 2016) Qua bảng 1.
cho thấy Châu Mỹ là khu vực có diện tích, năng suất và sản lượng ngô cao nhất. Nhờ trình độ khoa học kĩ thuật phát triển cao, năm 2014 năng suất ngô của Châu Mỹ đạt 77,16 tạ/ha, năng suất bình quân của thế giới đạt 56,15 tạ/ha, chỉ bằng 72,77% năng suất của châu lục này. Sản lượng ngô của Châu Mỹ đạt 526,69 triệu tấn - chiếm hơn 51% sản lượng ngô trên toàn thế giới. Châu Á là châu lục có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 với 60,69 triệu ha, nhưng năng suất lại thấp hơn Châu Âu và Châu Mỹ chỉ đạt 50,01tạ/ha, thấp hơn so với năng suất trung bình của thế giới.
Châu Âu có diện tích trồng ngô thấp nhất nhưng đứng thứ 2 trên thế giới 6 về năng suất đạt 68,90 tạ/ha. Châu Phi có diện tích đứng thứ 3 trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 21,05 tạ/ha thấp hơn gần 3 lần so với năng suất bình quân của thế giới. Xuất phát nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các châu lục trên thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế chính trị… 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngô là một trong những cây trồng chính trong trồng trọt, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi.
Tuy vậy sản xuất ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm nước ta phải nhập khẩu lượng lớn ngô nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (nghìn ha) (tạ/ ha) (nghìn tấn) 2010 1.202,3 (Nguồn FAOSTAT, 2016) Số liệu bảng 1.2 cho thấy sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng trong giai đoạn 2010 – 2014. Năm 2010 cả nước trồng được 1.126,9 nghìn ha, năm 2014 là 1.178,4 nghìn ha, tăng hơn 50 nghìn ha so với năm 2010. Việc tăng cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học đã khiến cho năng suất ngô liên tục tăng trong giai đoạn 2010 - 2014.
7 Sản lượng ngô năm 2014 đã tăng so với năm 2013 lên mức 5. Tuy diện tích, năng suất và sản lượng ngô của chúng ta đều thấp so với bình quân chung của thế giới và khu vực. Năm 2011 năng suất ngô của Việt Nam 46,8 tạ/ha, bằng 90,27% năng suất bình quân của thế giới, nhưng đến năm 2014 năng suất ngô giảm nhẹ xuống còn 44,1 tạ/ha. Điều này đặt ra cho ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn to lớn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay(FAOSTAT, 2016) [33].
Sự phát triển ngô ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như các nước trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao. Ví dụ như: công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn (Ngô Hữu Tình, 2003) [19]. Theo Bộ NN & PTNT, sản lượng ngô của Việt Nam trong năm 2015 đạt 5,28 triệu tấn, giảm 34.000 tấn so với dự báo do diện tích gieo trồng hạn chế, năng suất thấp do thời tiết bất lợi ở miền Bắc và giá ngô quốc tế thấp.
Diện tích thu hoạch trong năm 2016 ước đạt 1,2 triệu héc-ta, giữ nguyên so với những dự báo từ trước của Bộ. Đây là kết quả của chính sách chuyển đổi sản xuất ngô trên đất lúa kém hiệu quả. Tuy nhiên, do giá ngô trên thị trường quốc tế thấp nên diện tích thu hoạch ngô trong năm 2017 của Việt Nam sẽ vẫn giữ nguyên ở mức 1,2 triệu héc-ta. Với việc các giống ngô biến đổi gen được sử dụng đưa vào từ năm 2015, năng suất ngô trung bình trong năm 2016 và 2017 được dự kiến lần lượt đạt khoảng 4,6 và 4,8 tấn/ha.
Sản lƣợng ngô của Việt Nam trong năm 2015, 2016 và dự báo năm 2017 Chỉ tiêu Đơn vị 2015 2016 2017 (ƣớc tính) (dự báo) Diện tích thu hoạch nghìn ha 1.200 Năng suất tấn/ha 4,48 4,6 4,8 Sản lượng nghìn tấn 5.240 Nguồn: Bộ NN & PTNT Ở nuớc ta, khu vực Trung du, miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên có diện tích sản xuất ngô lớn nhất (Bảng 1. Diện tích trồng ngô theo địa lý vùng miền Việt Nam Đơn vị: 1.000 ha Khu vực 2011 2012 2013 2014 Cả nước 1.177,5 Đồng bằng châu thổ 96,0 86,4 88,3 88,7 sông Hồng Trung du và miền núi 465,7 502,0 504,5 514,7 Bắc Bộ Bắc Trung Bộ 207,6 121,4 206,0 207,9 Tây Nguyên 232,6 246,9 251,7 248,2 Đông Nam Bộ 78,7 79,3 79,8 80,0 Đồng bằng châu thổ 40,7 39,6 40,1 38,0 sông Mê-kông Nguồn: Tổng cục thống kê Khu vực miền Nam, chủ yếu gồm các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thường chỉ trồng một vụ ngô mỗi năm, bắt 9 đầu từ giữa tháng 5. Các khu vực phía Bắc, chủ yếu là đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và khu vực ven biển miền Trung có từ 2 đến 3 vụ ngô mỗi năm: vụ Xuân, vụ Thu và vụ Đông. Theo Bộ NN & PTNT, vụ Xuân bắt đầu từ nửa đầu tháng 2 đến nửa cuối của tháng 5; vụ Thu bắt đầu từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 9 và vụ Đông bắt đầu từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 1 năm sau.
Nhà nước có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ giống đã khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước sản xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất ngô đã được chuyển giao đến người nông dân. Tuy nhiên việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất vẫn còn nhiều hạn chế, với địa hình phức tạp, trên 70% diện tích ngô được trồng trên đất có độ cao, phụ thuộc vào nước trời, ít đầu tư thâm canh nên năng suất ngô vẫn còn thấp so với tiềm năng của giống. Năm 2016, năng suất trung bình cả nước đạt 4,6 tấn/ha, sản lượng trên 5.980 nghìn tấn so với năng suất ngô có thâm canh là 7- 8 tấn/ha. Bên cạnh đó các giống ngô có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thời tiết bất thuận như hạn hán và mưa lũ vẫn còn thiếu.
Để cây ngô Việt Nam phát triển một cách bền vững, đáp ứng trên 80% nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, việc đánh giá đúng thực trạng sản xuất ngô, đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm mở rộng diện tích trồng ngô là điều hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Bình Định. Từ năm 2011 đến 2015, diện tích ngô của tỉnh Bình Định tăng từ 8,0 nghìn ha lên 8,7 nghìn ha. Năm 2015, năng suất ngô của tỉnh đạt 57,2 tạ/ha nhưng vẫn chưa tuơng xứng với tiềm năng về điều kiện đất đai, khí hậu và tỷ 10 lệ sử dụng hơn 90% là giống ngô lai.
Diện tích, năng suất và sản lƣợng ngô của tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2015 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tấn) 2011 8,0 54,6 43,7 2012 8,3 55,4 46,0 2013 8,4 56,4 47,2 2014 8,3 55,7 46,2 2015 8,7 57,2 49,8 (Tổng cục thống kê, 2016). Hiện nay, Bình Định đã sử dụng trên 95% là giống ngô lai trong cơ cấu.