ĐẶT VẤN ĐỀ Kể từ khi kháng sinh được phát hiện bởi Flemming năm 1928, nó đã góp phần to lớn kiểm soát các bệnh vi khuẩn. Bên cạnh đó người ta cũng phát hiện khi dùng kháng sinh với liều nhỏ lại có tác dụng kích thích sinh trưởng, làm tăng khối lượng cơ thể/ngày từ 4-15%, làm tăng lượng thu nhận thức ăn và hệ số chuyển hoá thức ăn 2-6% (Morz, 2003) [57]. Khoảng 50 năm trở lại đây, nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng như chất kích thích sinh trưởng phổ biến trong chăn nuôi khắp thế giới. Tuy nhiên khi phát hiện ra sự xuất hiện của nhiều chủng vi khuẩn kháng kháng sinh gây nguy cơ mất an toàn tới sức khoẻ con người thì đã có nhiều thông tin đề cập tới vấn đề này.
Trước tác động xấu của kháng sinh, thế giới đang tìm cách hạn chế tiến tới bãi bỏ việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi nói chung và lợn nói riêng. Ở Việt Nam, việc hạn chế và cấm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đang được các cơ quan quản lý quan tâm. Hàng năm cục Thú y đều ban hành danh mục kháng sinh hạn chế và cấm sử dụng trong chăn nuôi. Tuy nhiên để xoá bỏ việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi đòi hỏi phải có giải pháp thay thế để bảo vệ sức khoẻ đàn gia súc, gia cầm.
Các giải pháp được thế giới quan tâm nhiều ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước là các sản phẩm thay thế kháng sinh: probiotic, prebiotic, enzyme, axit hữu cơ… Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới thì ở Việt Nam việc xoá bỏ sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng sẽ là xu thế tất yếu. Việc tìm các sản phẩm thay thế kháng sinh đang là việc làm cấp bách, các nhà khoa học trong nước cũng đang tích cực tiếp cận xu thế này và bước đầu có được kết quả khích lệ (Trần Quốc Việt và cộng sự, 2006) [44]. Bên cạnh đó, tiếp thu và thử nghiệm các sản phẩm thay thế kháng sinh từ nước ngoài cũng là một xu hướng cần tiến hành để rút ngắn khoảng cách trong thực tiễn chăn nuôi nước ta với thế giới. Trong các loại sản phẩm thay thế kháng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 sinh, axit hữu cơ là loại sản phẩm được quan tâm nghiên cứu vì những đặc tính ưu việt: An toàn cho vật nuôi và con người, cải thiện chức năng tiêu hoá, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại trong đường ruột, không tồn dư và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nắm bắt xu hướng ấy, vừa qua trong hội chợ triển lãm công nghệ chăn nuôi năm 2008 đã có công ty liên doanh giới thiệu sản phẩm Na- Butyrate do Công ty Singao (Trung Quốc) sản xuất và khuyến cáo sử dụng. Việc đưa nhanh các sản phẩm công nghệ cao vào sản xuất chăn nuôi ở nước ta nói chung và miền núi nói riêng nơi mà trình độ chăn nuôi còn có nhiều hạn chế, vệ sinh thú y trong chăn nuôi còn thấp sẽ góp phần tích cực làm tăng hiệu quả kinh tế. Xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, chúng tôi cho rằng việc triển khai đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na -Butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa từ 21 đến 60 ngày tuổi” là cần thiết. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Xác định khả năng thay thế kháng sinh của chế phẩm Na-Butyrate trong việc kích thích sinh trưởng làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi.
- Xác định được vai trò của Na-butyrate trong việc hạn chế bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa thông qua tác động làm thay đổi theo hướng tích cực trạng thái đường tiêu hóa lợn con. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI * Ý nghĩa khoa học: Đề tài xác định được ảnh hưởng tốt của chế phẩm Na-butyrate đến trạng thái chức năng của đường tiêu hoá, đến sinh trưởng của đàn lợn con sau cai sữa từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Kết quả nghiên cứu cho phép sử dụng Na-butyrate là một sản phẩm thay thế kháng sinh, nó có khả năng cải thiện trạng thái chức năng đường tiêu hóa, nâng cao sức sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi lợn con sau cai sữa, từ 21 đến 63 ngày tuổi, do đó làm nền tảng tốt cho giai đoạn nuôi thịt tiếp theo. Ngoài ra, đây còn là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chế phẩm trong chăn nuôi lợn.
*Ý nghĩa thực tiễn Góp thêm những kết quả từ thực tiễn nghiên cứu sử dụng các chế phẩm thay thế kháng sinh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn nói chung, lợn thịt hướng nạc nói riêng, góp phần nâng cao năng suất chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn theo mẹ là làm thế nào để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống của đàn con.
Để đạt được mục đích trên, bên cạnh việc tạo cho lợn con điều kiện chăm sóc tốt, chúng ta cần hiểu rõ các đặc điểm của lợn con theo mẹ, đặc biệt là đặc điểm sinh lý tiêu hoá lợn con, để từ đó có biện pháp nuôi dưỡng và tác động dinh dưỡng phù hợp. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa dạ dày lợn con Đặc điểm cơ quan tiêu hoá lợn của con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá: Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít ). Đối với lợn con, sự tiết dịch có những đặc điểm khác biệt với lợn lớn. Theo Trương Lăng (2004) [16] lợn con 20 ngày tuổi có phản xạ tiết dịch còn chưa rõ, ban đêm lợn mẹ tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con.
Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ axit của dịch vị lợn con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém. Hàm lượng axit biến đổi theo lứa tuổi lợn con, axit HCL tự do xuất hiện ở 25-30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40-50 ngày tuổi. Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cộng sự (2006) [33] cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể hiện ở sự thay đổi hoạt tính các enzym trong dịch vị.
- Men pepsin: lợn con dưới một tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con không có HCL tự do, lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu axit hay còn gọi là “Hypoclohydric”. Sau 3 tuần tuổi, lượng HCL tự do trong dịch vị mới tăng dần. Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con. Khi có HCL tự do sẽ kích hoạt để men pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein trong thức ăn.
Sau 1 tháng tuổi, men pepsin mới có khả năng tiêu hóa đầy đủ. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây ra bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng. Có thể kích thích để tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCL tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 5-7 ngày tuổi thì HCL tự do co thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14.
Trong dạ dày lợn là loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH = 2,5 - 3 với nồng độ HCL tự do từ 0,1- 0,5%. - Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men pepsin, thủy phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động thích hợp ở kkoảng pH = 4 - 5. Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCL tự do hình thành chưa nhiều. Ở động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày.
- Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó giảm dần. Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở pH = 4 - 5. Dưới tác dụng của chymosin và Ca++, protein trong sữa là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 caseinogen ở dạng hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại) của sữa được chuyển xuống ruột non để tiêu hóa. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa ruột Theo Từ Quang Hiển (2003) [10] Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần.
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần. Thức ăn từ dạ dày khi xuống ruột non chịu tác động phối hợp của các enzym trong dịch tụy, dịch ruột và các chất xúc tác tiêu hóa trong dịch mật để biến đổi về thành phần hóa học. * Nhóm enzym phân giải protein - Men trypsin: Là enzym chính của dịch tụy, được tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hóa trở thành dạng tripsin hoạt động sau đó là quá trình hoạt hóa tripsinogen.