Chương I: Giới thiệu nghiên cứu Chương II: Tổng quan nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán và ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán Chương III: Giả thiết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại Việt Nam. Chương V: Kết luận và khuyến nghị 4 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG IFRS ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN. Cơ sở lý luận về chất lượng thông tin kế toán Thông tin là dữ liệu đã được xử lý, sắp xếp để cung cấp nội dung có ý nghĩa với người sử dụng. Thông tin cũng có thể bị diễn đạt sai lệch, xuyên tạc do tác động cố ý hay vô ý của con người hay sinh vật khác.
Hiểu một cách đơn giản thì thông tin là dữ liệu đã qua xử lý, đối chiếu và trở nên có ý nghĩa đối với người dùng. Thông tin kế toán (TTKT) là thông tin do hệ thống kế toán xử lý và cung cấp, là những thông tin có tính hiện thực, đã xảy ra, có độ tin cậy và có giá trị pháp lý. Theo Gelinas và Dull (2010) thì thông tin kế toán là những sự kiện, con số được thể hiện trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ cho việc ra quyết định. Hiện nay, có nhiều quan điểm về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán tài chính trên thế giới.
Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB, chất lượng thông tin kế toán phải có khả năng tạo ra sự khác biệt giúp cho người sử dụng thông tin có thể hiểu được và đưa ra quyết định thông qua các dự báo về kết quả của các sự kiện trong quá khứ, ở hiện tại hay tương lai (2010). Mô hình FASB thiết lập các thuộc tính hữu ích của thông tin và đã đưa ra 2 nhóm đặc điểm về yêu cầu đối với chất lượng thông tin kế toán: Nhóm đặc điểm cơ bản (Primary Qualities) gồm tính thích hợp (Relevance) và tính đáng tin cậy (Reliability). Thông tin phải liên quan đến lĩnh vực và mục đích của người sử dụng cũng như cung cấp những tiên đoán và phản hồi của người sử dụng và luôn luôn sẵn sàng được cung cấp cho người sử dụng một cách kịp thời thì được xem là thích hợp. Thông tin trình bày một cách trung thực, trung lập nội dung của các sự kiện và có đầy đủ bằng chứng để có thể kiểm tra tính xác thực thì được xem là đáng tin cậy (Reliability).
Nhóm đặc điểm thứ yếu (Secondary Qualities) gồm có tính nhất quán và tính có thể so sánh được. Tính thích đáng và tính đáng tin cậy có mối quan hệ với sự nhất quán của nó trong việc đo lường, trình bày và so sánh các kết quả của một doanh nghiệp theo thời gian và giữa các doanh nghiệp với nhau. Mô hình của FASB được trình bày ở sơ đồ 1. 5 Người sử dụng Có thể hiểu Tính hữu ích Thích hợp Đáng tin cậy Phản Dự báo Kịp thời Có thể Trình bày Trung hồi kiểm chứng trung thực lập Nhất quán Có thể so sánh Sơ đồ 1: Mô hình chất lượng thông tin của FASB (1980, 1993) Vào tháng 4 năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã đưa ra một khuôn khổ các khái niệm làm nền tảng cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính.
Liên quan đến các thuộc tính thuộc CLTT kế toán, khuôn mẫu khái niệm của IASB cho rằng chất lượng được hiểu như là những thuộc tính làm cho những thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính trở nên hữu ích đối với những người sử dụng thông tin. IASB đã đưa ra bốn đặc tính chính có liên quan đến chất lượng của thông tin kế toán: Tính thích hợp, đáng tin cậy, có thể hiểu được và tính có thể so sánh. Bên cạnh đó IASB cũng đề xuất các đặc tính giúp nâng cao CLTT kế toán đó là tính trọng yếu, trình bày trung thực, bản chất hơn hình thực, trung lập, thận trọng, đầy đủ và kịp thời. (xem mô hình ở sơ đồ 2) 6 Thông tin hữu ích Thích hợp Đáng tin cậy Có thể hiểu được So sánh được Trọng yếu Trình bày trung thực Nội dung hơn hình thức Trung lập Thận trọng Đầy đủ Kịp thời Sơ đồ 2: Mô hình chất lượng thông tin của IASB (2001) Thỏa thuận Norwalk được ký ngày 18 tháng 11 năm2002 giữa FASB và IASB đã đặt nền móng của dự án hội tụ giữa hai cơ quan thiết lập chuẩn mực kế toán lớn nhất thế giới.
Vào tháng 10 năm 2004, hai tổ chức này đã thành lập một đề án nhằm thiết lập những tiêu chuẩn cho việc trình bày thông tin trên BCTC nhằm hướng đến việc cải thiện tính hữu ích của thông tin trên BCTC cũng nhưphát triển một khuôn khổ khái niệm chung giữa hai tổ chức. Vào cuối tháng 10/2010, Ủy ban đã hoàn tất giai đoạn A của dự án, đó là thống nhất vấn đề liên quan đến các tiêu chuẩn đo lường CLTT kế toán. Các thuộc tính chất lượng của thông tin hữu ích theo quan điểm của IASB& FASB 2010 được trình bày tại chương 3 trong Báo cáo các khái niệm kế toán tài chính số 8 (Statement of Financial Accounting Concepts No. Báo cáo đã khẳng định rằng tính thích hợp và trình bày trung thực là đặc tính chất lượng nền tảng của thông tin kế toán, cụ thể: 7 Thích hợp (relevance): tính thích hợp của thông tin được xem là khả năng tác động của thông tin đến việc ra quyết định của người sử dụng.
Thông tin tài chính có khả năng ảnh hưởng đến việc ra quyết định khi nó mang giá trị dự đoán (predictive value), giá trị xác nhận (confirmatory value) hoặc cả 2. Thông tin tài chính có giá trị dự đoán nếu nó có thể được sử dụng làm đầu vào cho các quy trình được người dùng sử dụng để dự đoán kết quả trong tương lai. Thông tin tài chính không cần phải là một dự đoán hoặc dự báo để có giá trị tiên đoán. Thông tin tài chính có giá trị dự đoán được người dùng sử dụng để tự tạo phỏng đoán.
Thông tin tài chính có giá trị xác nhận nếu nó cung cấp phản hồi (xác nhận hoặc thay đổi) về các đánh giá trước đó. Thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc trình bày sai thông tin có thể ảnh hưởng đến các quyết định mà người sử dụng đưa ra trên cơ sở thông tin tài chính của một đơn vị báo cáo cụ thể. Nói cách khác, tính trọng yếu là khía cạnh liên quan của một đơn vị cụ thể dựa trên bản chất hoặc mức độ hoặc cả hai khoản mục mà thông tin có liên quan trong ngữ cảnh của báo cáo tài chính của một đơn vị. Do đó, Hội đồng quản trị không thể chỉ định một ngưỡng định lượng thống nhất cho tính trọng yếu hoặc xác định trước những gì có thể là trọng yếu trong một tình huống cụ thể.
Trình bày trung thực (faithful representation): BCTC trình bày các hiện tượng kinh tế dưới dạng từ ngữ và các con số. Để trở nên hữu ích, thông tin tài chính không chỉ phải đại diện cho các hiện tượng có liên quan mà còn phải phản ánh trung thực các hiện tượng mà nó có ý định đại diện. Để đạt được điều đó, thông tin cần phải mang tính đầy đủ (complete), trung lập (neutral), không sai sót (free from error). Các thuộc tính làm gia tăng CLTT kế toán: Có khả năng so sánh (comparability), có thể kiểm chứng (verifiability), kịp thời (timeliness) và dễ hiểu (understandability) là những thuộc tính chất lượng làm gia tăng sự hữu ích của thông tin.
Các đặc điểm CLTT kế toántheo quan điểm dự án hội tụ giữa IASB và FASB theo Sơ đồ 3 8 Tính hữu ích Thích hợp Trình bày trung thực Dự đoán Chứng Trọng Đầy Trung Không được thực yếu đủ lập có lỗi Có thể so Kiểm Kịp thời Dễ hiểu sánh chứng được Sơ đồ 3: Mô hình CLTT kế toán của IASB và FASB 2010 Theo quan điểm quản lý công nghệ thông tin (COBIT, 2019), trong môi trường công nghệ thông tin ứng dụng, CLTT kế toán ngoài đề cập đến các vấn đề chung để đảm bảo nội dung chính xác, đầy đủ thì cần quan tâm đến các Liên kết cạnh đến nội dung thông tin và các vấn đề về độ tin cậy của thông tin, bảo mật gian, an toàn, thông tin và sẵn sàng của thông tin đối với người sử dụng. CLTT kế toán được đánh giá qua 7 tiêu chuẩn bao gồm: Hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy. Tại Việt Nam, chưa xác định khái niệm “đặc điểm chất lượng” của thông tin kế toán. Tuy nhiên, vấn đề đo lường CLTT kế toán được hiển thị ở nội dung “các cơ bản yêu cầu đối với kế toán” trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01 - Chuẩn mực chung) với 6 yêu cầu đối với thông tin kế toán đó là: Trình bày trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh.
Trong chuẩn mực kế toán của Việt Nam, trọng yếu được coi là 1 nguyên tắc kế toán. Yêu cầu về tính thích hợp và đáng 9 tin cậy không được đưa ra mà thay vào đó là các thuộc tính trung thực, khách quan, đầy đủ. Tóm lại, Chất lượng thông tin kế toán là khả năng tạo ra sự khác biệt giúp cho người sử dụng thông tin có thể hiểu được và đưa ra quyết định đúng đắn. Chất lượng thông tin kế toán được biểu hiện thông qua các thuộc tính như thông tin đó là trọng yếu, có thể dự đoán được, chứng thực được, đầy đủ, trung lập, không có lỗi và thông tin kế toán càng trở nên minh bạch và hữu ích hơn khi nó có thêm 4 thuộc tính là có thể so sánh được, kiểm chứng được, dễ hiểu và kịp thời.
Khái quát về IFRS IFRS là từ viết tắt của International Financial Reporting Standards, có nghĩa là chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế. Đây là tên gọi của một hệ thống các chuẩn mực kế toán được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB - International Accounting Standard Board) - một cơ quan trực thuộc IFRS Foundation (Quỹ IFRS) ban hành nhằm mục đích tạo ra một “ngôn ngữ” toàn cầu chung về kế toán, giúp cho các Báo cáo tài chính được trình bày một cách nhất quán, minh bạch, đáng tin cậy và dễ dàng so sánh với nhau không phân biệt lĩnh vực, quốc gia hay vùng lãnh thổ.