CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN 1. Gạo huyết rồng (Oryza sativa L.) Cây lúa thuộc họ Poaceae (hay họ hoà thảo), phụ họ Pryzoideae, tộc Oryzae, dòng Oryza, loài Oryza sativa (trồng chủ yếu ở Châu A) và Oryza glaberrima (trồng chủa yếu ở Châu Phi). Câu tạo hạt lúa: gồm các thành phân chính là râu, mày thóc, vỏ (vỏ trâu, vỏ quả, vỏ hạt), lớp aleuron, nội nhũ và phôi. Vỏ hạt là lớp vỏ mong bao bên ngoài nội nhũ, có màu trắng đục hoặc đó cua.
Tuy theo độ chín của lúa mà lớp vỏ này dày hay mỏng. Trung bình lớp vỏ này chiếm từ 5.1% khối lượng hạt gạo lật. Lớp aleuron có cầu tạo chủ yếu là protid và lipid. Khi xay xát lớp vỏ hạt, chủ yếu là lớp aleuron bị vụn vỡ tạo ra cám.
Nếu lớp aleuron này còn sót lại sẽ làm cho hạt gạo dễ bị hư hỏng trong quá trình bảo quản. Nội nhũ: chủ yếu là glucid, chiếm tới 90% thành phan của nội nhũ. Tuy giống lúa và điều kiện canh tác mà nội nhũ có màu trắng đục hay mau trang trong. Khi xay xát, hạt lúa có nội nhũ mau trang đục dễ bị gãy vỡ va nau lâu chín hơn màu trắng trong.
Phôi: nằm ở góc dưới nội nhũ, đây là bộ phận dự trữ và chuyên hoá chất dinh dưỡng cung cấp cho mộng khi hạt nảy mầm. Do đó phôi chứa nhiều protid, lipid và vitamin, trong phôi chứa tới 60% lượng vitamin B1 trong toàn bộ hạt thóc. Khi xay xát, phôi cũng dễ bị vụn nát và tạo thành cám. Gao màu (phố biến là gạo đỏ và gạo đen) là loại gạo quen thuộc của người Châu A, nó chứa hàm lượng anthocyanin cao hơn so với gạo trăng (M.
Escribano- Bail“on va cs, 2004). Trong quá trình sản xuất gạo, người ta thường loại bỏ lớp cám vì chúng chứa nhiều enzyme, chất béo, vitamin dễ bị hư hỏng, khó bảo quản do đó đã gây ton that một nguồn dinh dưỡng có giá trị do hầu hết các hợp chất có hoạt tính sinh học (bao gồm cả anthocyanin) trong gạo nguyên hạt đều hiện diện trong lớp cám và phổi. HVCH: Nguyễn Bảo Toàn 3 GVHD: TS. Lê Minh Hùng Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình ép dim và say đến hàm lượng anthocyanin trong sản phâm cháo huyết rồng ăn lién.
Trầu Vo quả Phôi nhân Cám Lớp Aleurone Nội nhũ Mam Hình 1.1 Cầu tao hat lúa (nguon: http://www.info/) Ở Việt Nam, gạo huyết rồng (Oryza sativa L.) (hay còn gọi là gạo đỏ) được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Băng Sông Cửu Long như Đồng Tháp, Sóc Trăng, đặc biệt là ở Long An. Từ năm 2009, tỉnh Long An đã phát triển vùng chuyên canh lúa huyết rồng tại xã Thái Trị, huyện Vĩnh Hưng. Đây là giống lúa 6 tháng, được canh tác một vụ trong bắt đầu từ tháng 5-6 âm lịch (http://www.1: Thành phần dinh dưỡng của gạo lứt huyết rồng và gạo lứt thường Chí tiêu Đơn vị Gạo lứt huyết rồng | Gạo lứt thường Glucid % 83.8 (Nguén: Nguyễn Thi Ngọc Yến, 2011) Theo Abdel-Aal va cs (2006), cyanidin-3-glucose là thành phan anthocyanin chính trong gạo huyết rồng va ham lượng anthocyanin tổng trong khoảng 93.5 g/g, với cyanidin-3-glucoside (chiếm chủ yếu) 14+0. Báo cáo khảo sát hai loại gạo đỏ và gạo trắng của Finocchiaro và cs (2007), cho kêt qua gạo đỏ có sac tô do đã bỏ trâu có khả nang chong oxy hóa cao hơn ba lân so HVCH: Nguyễn Bảo Toàn 4 GVAD: TS.
Lê Minh Hung Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ảnh hưởng cua qua trình ép din va say đến ham lượng anthocyanin trong sản phâm cháo huyết rồng ăn lién. VỚI loại gao trắng đã bỏ trâu, và đặc điểm này là do sự có mặt của proanthocyanidin và hợp chất phenol liên quan ở gạo đỏ. Hiện tượng sử dụng gạo lứt, hay các loại gạo xay xát không kĩ chỉ mất một phần hay còn nguyên cám để chữa một số bệnh như tiểu đường. tim mạch, kế cả ung thư được xem như là xu hướng hiện nay.
Tuy vậy, những nghiên cứu khảo sát về các sản phẩm chế bién gạo lit, đặc biệt là loại gạo lút huyết rồng, và những khảo sát về biến đổi anthocyanin trong gạo lit huyết rồng sau quá trình chế biến ở trong và ngoải nước vẫn còn rất ít.2 Thuyết gốc tự do và chất chống oxy hóa Thuyết này xuất phát từ ý kiến của BS. Denham Harman đưa ra vào năm 1950: Các gốc tự do là nguyên nhân chính gây xáo trộn hoạt động của các ty lạp thể (mitochondries), bám vào các ADN là nguyên liệu chính của các mật mã di truyền, gây đột biến bên trong các tế bào. Nói một cách khác là các gốc tự do là nguyên nhân của sự tự hủy hoại, của sự lão hóa ở cấp tế bảo. Gốc tự do là những nguyên tử, những nhóm nguyên tử hay phân tử mà lớp điện tử ngoài cùng có chứa điện tử không cặp đôi.
Gốc tự do có thể mang điện tích âm (phố biến là gốc superoxide), điện tích dương (có nguồn gốc là hydrocarbon) hoặc không mang điện tích (các hợp chất thiol, các phenol như vitamin E khi bị mất đi nguyên tử Hidro) (Nguyễn Hữu Chan va cs, 1999). Gốc tự do là cần thiết cho tôn tại của tế bao va sinh vật sống (Nagy, 2001). Một vài loại gốc tự do như nitrit oxide, superoxide anion, và các sản phẩm trung gian liên quan đến oxy xảy ra trong tế bào, bảo vệ các chức năng của cơ thể chúng ta hoạt động bình thường. Tuy nhiên, cân băng bên trong của hệ thống oxy hóa nội sinh có thé mat đi khi cơ thé ở tinh trạng stress hay ở trong môi trường cực đoan, tạo ra các gốc tự do vượt quá nhu cầu của cơ thé (Pu Jing, 2006).
Sự vượt quá mức của gốc tự do có thé dẫn đến lão hóa và một số bệnh nhu ung thư, bệnh tim mạch, suy giảm hệ thống miễn dịch, rỗi loạn chức năng não, đục thủy tinh thé. Để chống lại sự bội tăng của các gôc tự do mà hệ thông oxy hóa nội sinh không đủ sức can HVCH: Nguyễn Bảo Toàn 5 GVHD: TS. Lê Minh Hùng Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ảnh hưởng cua qua trình ép din va say đến ham lượng anthocyanin trong sản phâm cháo huyết rồng ăn lién. bang để vô hiệu hóa, các nhà khoa học đặt van dé dùng các chất chống oxy hóa ngoại sinh với mục đích phòng ngừa.
Những nghiên cứu dịch té cho thay việc tiêu thụ một lượng lớn các loại rau qua, và trái cây hằng ngày có liên quan đến việc giảm thấp nguy cơ mắc bệnh mãn tính: đục thủy tinh thể, huyết áp cao, béo phì (Pu Jing, 2006), và báo cáo của Glade (1999) cho răng khoảng 20% hoặc nhiều hơn của trường hợp bệnh ung thư có thể phòng ngừa với việc tiêu thụ khoảng 400-800 g rau quả/ ngày. Điều nay cho thấy có những tác dụng bảo vệ của những hợp chất chống oxy hóa ngoại sinh từ thực vật có trong khâu phân ăn hăng ngày giúp cơ thé chống lại bệnh tật và tử vong có nguồn gốc do hoạt động quá mức của các gốc tự do. Và các chất chống oxy hóa ngoại sinh này đã được xác dịnh, đó là hợp chất flavonoid, polyphenol.chúng tồn tại và dé tìm thay trong tự nhiên, trong những mô rau quả và trái cây, hay cũng có thể được tìm thấy trong các loại ngũ cốc (gạo, lúa mì,. Tuy nhiên thật không may, các hoạt chất này lại không có hoặc có rất ít trong các sản phẩm thực phẩm chế biến công nghiệp hiện nay, do tính chất không bên, dé bị biến tính ở các điều kiện chế biến.3 Anthocyanins Anthoeyanin thuộc lớp hợp chat flavonoid tan trong nước, tao nên một nhóm các màu mạnh, chịu trách nhiệm cho màu cam, đỏ, tím và xanh ở nhiều loại rau quả, lá, rễ củ, hay các dạng dự trữ khác của thực vật.
Chúng được tìm thay trong tu nhién 6 dang polyhydroxylated va methoxylated heterosides — xuat phat tir ion flavylium (2- phenylbenzopyrilium) (M Teresa Escribano-Bail“ on, 2004). Anthocyanin là dẫn xuất của anthocyanidin (aglycon) với các nhóm đường (gồm rhamnose, glucose, galactose, va arabinose) (Miki Hiemori và cs, 2009). Anthocyanidin rất không bên, hiếm khi tìm thay trong nguyên liệu thực vật, chúng xuất hiện chủ yếu dưới dạng glycosyl hóa, với nhóm thế đường có vai trò làm tăng sự ổn định và kha năng hòa tan của phân tử anthocyanin tạo thành (Araceli Castaneda-Ovando va cs, 2009). Các anthocyanin khác nhau phụ thuộc vào số lượng, loại, vị trí các gốc đường gắn vào phân aglycol và vị trí của các aliphatic hay HVCH: Nguyễn Bảo Toàn 6 GVHD: TS.
Lê Minh Hùng Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ảnh hưởng cua qua trình ép din va say đến ham lượng anthocyanin trong sản phâm cháo huyết rồng ăn lién. aromatic acid gan vào gốc đường. Chúng liên kết với aglycon bởi liên kết tại vi trí C 3, 5, 7, 3', 4° và 5ˆ (F. Delgado-Vargas và cs, 2000).2: Cau trúc hoá học của flavylium hay 2-phenylbenzopyrilium (Nguồn: Ma Teresa Escribano-Bail“on và cs, 2004) Bang 1.2: Cac anthocyanidin phố biến trong tự nhiên Anthocyanidins Substitution pattern Delphinidin 3.5,7,4',5'-OH; 3-OMe Peonidin 3,5,7,4'-OH; 3’-OMe Malvidin 3.
-OMe (Nguồn: Ma Teresa Escribano-Bail’on va cộng sự, 2004) Hiện nay, đã có khoảng 600 loại anthocyanin được xác định (O. Andersen va cs, 2004). Trong đó, 3 loại là anthocyanin cyanidin, delphinidin và pelargonidin là phố biến nhất trong tự nhiên, chúng hiện diện trong các loại lá có màu (80%), trong trái cây (69%) và trong các loại hoa (50%) (Ghosh D va cs, 2007) Cac anthocyanin thường bi acyl hoá trên vi trí C3 của đường bởi các aromatic acid như p-coumaric, caffeic, ferulic, sinapic, gallic, p-hydroxybenzoic acid hay các aliphatic acid nhu malonic, acetic, malic, succinic, oxalic acid. Su phân bố mau của các anthocyanin phụ thuộc vào các nhóm thé trong cấu trúc của vòng B, số lượng và vị trí các gốc đường, acyl hoá gốc đường bởi các acid, pH, nhiệt do, loại dung môi cũng như sự hiện diện của các co-pigment (Mazza G, 2007).
Trong dung dịch, anthocyanin tồn tại ở 4 dạng cấu trúc: quinonoidal (anhydro) bazo (A) cho màu xanh, cation flavylium (AH+) màu đỏ, carbinol pseudobase (B) và chalcone (C) không mau. HVCH: Nguyễn Bảo Toàn 7 GVHD: TS. Lê Minh Hùng Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ảnh hưởng cua qua trình ép din va say đến ham lượng anthocyanin trong sản phâm cháo huyết rồng ăn lién. ) oR = § Í <a ‘ = OH ` ¬—9N —— | 4< Kí |~~ > Bs ~ OGI Ì~ = ~ aOGI { A AH L4 4 Png OH i: OH 8.
6 fi oJ _ : — ae i ais ~ A= | EI | i] | ` sứ: >> OH ie ¬ š oc! OH C B Hình 1.3: Các dạng cấu trúc của anthocyanin trong dung dịch Trong môi trường pH 1-3, anthocyanin tồn tại chủ yếu dạng cation flacylium nên cho mau đỏ.