Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước giữ vai trò sinh mệnh đối với các hệ sinh thái và sự phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên tình trạng suy thoái chất lượng nước mặt đang diễn ra gay gắt do tác động kép từ biến đổi khí hậu và chuyển đổi sử dụng đất. Tại vùng miền núi dốc, dòng chảy mặt phát sinh khi cường độ mưa vượt quá khả năng thấm của đất, cuốn theo bùn cát, chất hữu cơ và làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định và lượng hóa mức độ tác động của thảm thực vật rừng cùng lượng mưa tới các đặc trưng thủy văn dòng chảy, khắc phục hạn chế của các phân tích định tính trước đây.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào ba nội dung cốt lõi: xác định đặc trưng chất lượng dòng chảy gồm lưu lượng nước, chiều cao mực nước và nhiệt độ nước; định lượng hóa mức độ ảnh hưởng của lượng mưa cùng biến động độ che phủ rừng đến các chỉ tiêu thủy văn; và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý nhằm bảo vệ bền vững nguồn nước lưu vực sông Bùi.

Nghiên cứu được triển khai tại lưu vực sông Bùi thuộc địa bàn xã Lâm Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình với tọa độ địa lý 20°45’ đến 21°01’ vĩ độ Bắc và 105°24’ đến 105°39’ kinh độ Đông. Tổng diện tích lưu vực đạt 32,76 km2 (tương đương 32.760.000 m2) với chu vi 27.010 m, độ cao tuyệt đối dao động từ 30 m đến 805 m, tạo độ dốc trung bình 9 độ. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu thủy văn và ảnh viễn thám kéo dài 16 năm từ năm 1995 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và quy hoạch sử dụng đất bền vững tại khu vực Tây Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết thủy văn học đất dốc và cơ chế phát sinh dòng chảy mặt của Horton (thập niên 1930 - 1940) kết hợp thuyết diện tích sản sinh dòng chảy biến động VSA được thừa nhận từ những năm 1970. Theo các khung lý thuyết này, khả năng thấm và giữ ẩm của đất rừng đóng vai trò quyết định trong việc biến dòng chảy mặt thành dòng chảy ngầm, hạn chế xói mòn và giảm thiểu đỉnh lũ.

Mô hình nghiên cứu kế thừa phương trình tương quan thủy văn Log(y) = a + b Log(x) của Võ Đại Hải (năm 1996) và phương trình hồi quy bậc hai Y = a + bX + cX^2 của Phùng Văn Khoa (năm 1997) cùng Phạm Văn Điển (năm 1998, 2006) để mô hình hóa mối quan hệ giữa lượng mưa, chỉ tiêu cấu trúc thảm rừng với lượng dòng chảy mặt. Các khái niệm then chốt bao gồm: Thủy văn rừng, Chất lượng dòng chảy (CLDC), Dòng chảy bề mặt (DCBM), Độ che phủ rừng và Chỉ số thực vật khác biệt chuẩn hóa (NDVI). Tán rừng có khả năng giữ lại từ 5,7% đến 11,6% tổng lượng giáng thủy và chuyển hóa tới 88,2% đến 92,5% lượng mưa thành dòng ngầm, tạo nên cơ chế lọc tự nhiên duy trì chất lượng nước mặt ổn định.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi dữ liệu quan trắc thủy văn liên tục 16 năm (1995 - 2010) tại trạm khí tượng thủy văn Lương Sơn, cùng dữ liệu hiện trạng rừng qua 4 kỳ kiểm kê tài nguyên toàn quốc các năm 1995, 2000, 2005 và 2010. Ngoài ra, cỡ mẫu ảnh vệ tinh đa thời gian gồm 4 cảnh ảnh Landsat ETM (1992, 1997, 2002, 2007) và ảnh SPOT 5 năm 2010 được phân loại qua hơn 200 điểm kiểm chứng thực địa.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng theo các trạng thái thảm phủ (rừng trồng, tre nứa, rừng phục hồi, đất trống, đất dân cư) để trích xuất giá trị phản xạ phổ và ngưỡng chỉ số NDVI. Lý do lựa chọn hệ phương pháp tích hợp GIS và Viễn thám (ArcGIS 10, ArcScene, MapInfo 11, Erdas Imagine 2011) là khả năng bóc tách ranh giới lưu vực tự động từ mô hình số độ cao DEM, trực quan hóa không gian 3D với độ chính xác cao mà phương pháp đo đạc truyền thống không đáp ứng được. Các kiểm định tương quan và mô hình hồi quy đa biến được xử lý chuyên sâu trên phần mềm SPSS 16 và Excel 2010 nhằm xác thực độ tin cậy của các tham số ở mức ý nghĩa p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, độ che phủ rừng trong lưu vực sông Bùi tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 1995 - 2010. Năm 1995, độ che phủ chỉ đạt 10,7% (tương ứng 346,5 ha rừng trồng), đến năm 2000 tăng nhẹ lên 11,7% (375,0 ha), sau đó tăng vọt lên 54,6% vào năm 2005 (1.747,4 ha) và đạt mức 56,1% vào năm 2010 (1.796,3 ha gồm 1.682,2 ha rừng trồng, 91,7 ha rừng phục hồi và 22,4 ha tre nứa). Tổng diện tích rừng tăng gấp 5,18 lần sau 15 năm.

Thứ hai, diện tích đất trống suy giảm mạnh mẽ từ 2.799,3 ha năm 1995 xuống còn 2.340,1 ha năm 2000, giảm còn 960,3 ha năm 2005 và chỉ còn 577,9 ha vào năm 2010, tương ứng mức giảm 79,35%. Ngược lại, diện tích đất dân cư và đất phi nông nghiệp khác gia tăng liên tục từ 56,3 ha (1995) lên 199,2 ha (2000), 337,4 ha (2005) và đạt 617,6 ha vào năm 2010, tăng gấp 10,97 lần.

Thứ ba, chế độ thủy văn chịu sự chi phối mạnh mẽ của lượng mưa bình quân 1.913 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm trên 70% đến 95% tổng lượng mưa cả năm, tạo ra lưu lượng dòng chảy và chiều cao mực nước cực đại vào các tháng 7, 8, 9. Nhiệt độ nước trung bình năm dao động quanh ngưỡng 23,1°C và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhiệt độ không khí và lớp phủ mặt đất.

Thứ tư, phân tích hồi quy xác lập mối liên hệ nghịch rõ rệt giữa độ che phủ rừng với biên độ dao động của mực nước và lưu lượng dòng chảy. Rừng phát triển giúp hạ thấp đỉnh lũ, nâng cao dòng chảy kiệt mùa khô và ổn định nhiệt độ dòng nước.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của độ che phủ rừng từ 11,7% lên 54,6% trong giai đoạn 2000 - 2005 là minh chứng rõ nét cho hiệu quả thực thi Dự án 661 (Trồng mới 5 triệu ha rừng) kết hợp chính sách giao đất khoán rừng của tỉnh Hòa Bình. Thảm thực vật phục hồi làm tăng độ xốp đất feralit, tăng dung lượng hấp thụ nước mưa và làm giảm tốc độ truyền dòng chảy mặt từ 7 đến 11 lần, tương đồng với kết luận của Vũ Thanh Te (năm 2005) và Đỗ Đình Sâm (năm 2002).

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường xu thế đa thời gian kết hợp biểu đồ cột chồng, thể hiện sự hoán đổi nghịch chiều giữa diện tích đất trống và diện tích rừng che phủ qua 4 mốc kiểm kê (1995, 2000, 2005, 2010). Đồng thời, bảng ma trận chuyển dịch đất đai giúp minh chứng rõ nét quá trình chuyển đổi 2.221,4 ha đất trống thành rừng kinh tế và khu dân cư. Tuy nhiên, sự bùng nổ của đất dân cư từ 56,3 ha lên 617,6 ha cùng các hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng (453 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 2010) là nguyên nhân chính gây xáo trộn cục bộ dòng chảy và gia tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt sông Bùi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, bảo vệ nghiêm ngặt và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 91,7 ha rừng tự nhiên phục hồi cùng 1.682,2 ha rừng trồng phòng hộ đầu nguồn. Hạt Kiểm lâm Lương Sơn phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Lâm Sơn thực hiện chỉ tiêu nâng cao độ che phủ rừng toàn lưu vực đạt trên 60% trong giai đoạn 2013 - 2020, ưu tiên trồng bổ sung cây bản địa đa tác dụng.

Thứ hai, thiết lập hành lang kiểm soát quy hoạch sử dụng đất dân cư và hoạt động công nghiệp nhằm kiềm chế tốc độ gia tăng diện tích đất không thấm nước. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lương Sơn cần ban hành quy chế kiểm soát chất thải từ 453 cơ sở tiểu thủ công nghiệp và các mỏ khai thác đá vôi, bảo đảm 100% cơ sở có hệ thống xử lý lắng đọng trước khi xả thải ra sông Bùi, hoàn thành trước năm 2015.

Thứ ba, xây dựng hệ thống trạm quan trắc thủy văn và chất lượng nước tự động tại 3 vị trí xung yếu thuộc thượng lưu, trung lưu và hạ lưu xã Lâm Sơn. Trung tâm Quan trắc Khí tượng Thủy văn tỉnh Hòa Bình chủ trì triển khai lắp đặt thiết bị đo lưu lượng và nhiệt độ nước theo thời gian thực từ năm 2014 đến năm 2016 nhằm cung cấp dữ liệu cảnh báo lũ quét sớm.

Thứ tư, nhân rộng mô hình nông lâm kết hợp bền vững trên diện tích hơn 500 ha đất canh tác nương rẫy có độ dốc trên 15 độ. Trạm Khuyến nông Khuyến lâm huyện Lương Sơn chịu trách nhiệm chuyển giao kỹ thuật trồng băng cây xanh chắn sóng, trồng cỏ Vetiver chống xói mòn và xen canh cây ăn quả giá trị cao cho 15.146 hộ dân toàn huyện trong giai đoạn 2013 - 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản lý lâm nghiệp và tài nguyên nước tại Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình. Luận văn cung cấp phương pháp định lượng biến động rừng và công thức dự báo dòng chảy để phục vụ công tác lập quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh và xác định mức đơn giá chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Thủy văn công trình và Quản lý tài nguyên môi trường. Đề tài mở ra hướng tiếp cận chuẩn hóa về quy trình giải đoán ảnh viễn thám Landsat ETM, SPOT 5 kết hợp tính toán chỉ số NDVI và mô hình hóa thủy văn 3D bằng ArcGIS 10 và MapInfo 11.

Nhóm thứ ba là các ban quản lý dự án quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng và du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Lương Sơn. Dữ liệu cảnh báo về tỷ lệ che phủ và ngưỡng an toàn xả thải là căn cứ để phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho hơn 300 trang trại và các khu nghỉ dưỡng sinh thái.

Nhóm thứ tư là chính quyền cơ sở Ủy ban nhân dân xã Lâm Sơn và cộng đồng dân cư địa phương tại lưu vực sông Bùi. Tài liệu giúp nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ 1.796,3 ha rừng đầu nguồn, xây dựng hương ước bảo vệ nguồn nước sinh hoạt và chủ động phòng ngừa lũ quét.

Câu hỏi thường gặp

Độ che phủ rừng tại lưu vực sông Bùi biến động cụ thể ra sao trong 15 năm nghiên cứu? Giai đoạn 1995 - 2010 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của thảm rừng. Độ che phủ từ mức 10,7% với 346,5 ha năm 1995 đã tăng lên 11,7% năm 2000, bứt phá đạt 54,6% năm 2005 và chạm mốc 56,1% với 1.796,3 ha năm 2010 nhờ triển khai hiệu quả Dự án 661.

Thảm thực vật rừng điều tiết lượng nước và dòng chảy mặt theo cơ chế nào? Tán rừng giữ lại 5,7% đến 11,6% tổng lượng mưa rơi, lớp thảm mục và hệ rễ làm tăng độ thấm nước của đất, chuyển hóa từ 88,2% đến 92,5% lượng mưa thành dòng chảy ngầm. Cơ chế này giúp giảm lượng nước chảy tràn bề mặt, hạ thấp đỉnh lũ và duy trì dòng kiệt mùa khô.

Tác động nhân sinh từ đất dân cư ảnh hưởng thế nào đến thủy văn lưu vực? Diện tích đất dân cư và đất khác tăng gần 11 lần từ 56,3 ha năm 1995 lên 617,6 ha năm 2010. Quá trình bê tông hóa làm gia tăng diện tích bề mặt không thấm nước, đẩy nhanh tốc độ tập trung dòng chảy mặt và kéo theo các chất thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp vào sông Bùi.

Phương pháp viễn thám và chỉ số NDVI được ứng dụng như thế nào trong đề tài? Nghiên cứu sử dụng công cụ Model Maker trong Erdas Imagine 2011 để tính chỉ số NDVI từ các kênh phổ hồng ngoại gần (NIR) và đỏ (RED) trên ảnh Landsat ETM qua các năm 1992, 1997, 2002, 2007, kết hợp ảnh SPOT 5 năm 2010 nhằm phân loại tự động các trạng thái rừng chính xác.

Đặc trưng lượng mưa ảnh hưởng như thế nào đến lưu lượng dòng chảy sông Bùi? Lượng mưa trung bình năm đạt 1.913 mm nhưng tập trung tới trên 70% đến 95% vào mùa hè (tháng 7, 8, 9). Lượng mưa và lưu lượng dòng chảy tương quan chặt chẽ theo hàm phi tuyến, tạo ra nguy cơ lũ quét rất cao trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập ranh giới tự động và mô hình 3D lưu vực sông Bùi với diện tích 32,76 km2, chu vi 27.010 m và độ cao trung bình 206 m bằng công nghệ GIS hiện đại.
  • Độ che phủ rừng tại lưu vực tăng trưởng vượt bậc từ 10,7% (năm 1995) lên 56,1% (năm 2010), góp phần thu hẹp 79,35% diện tích đất trống đồi trọc.
  • Nghiên cứu đã định lượng hóa thành công tác động điều tiết của thảm rừng trong việc giảm lưu lượng đỉnh lũ và ổn định nhiệt độ dòng chảy dưới tác động của lượng mưa 1.913 mm/năm.
  • Diện tích đất dân cư tăng gấp 10,97 lần (đạt 617,6 ha năm 2010) được nhận diện là nhân tố chính gây áp lực lên chất lượng môi trường nước mặt.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quy hoạch và chính sách quản lý được đề xuất có giá trị ứng dụng cao cho giai đoạn 2013 - 2020.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là việc kết hợp thành công công nghệ Viễn thám NDVI và mô hình hóa GIS với dữ liệu thủy văn thực nghiệm để lượng hóa mối quan hệ sinh thái rừng - nguồn nước. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng mạng lưới quan trắc chất lượng nước hóa lý tự động dọc toàn tuyến sông Bùi trước năm 2016. Hãy liên hệ ngay với các chuyên gia thủy văn rừng để tiếp cận bộ cơ sở dữ liệu số hóa và chuyển giao mô hình quản lý lưu vực bền vững cho địa phương.