CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THỰC HIỆN DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Tình hình phát triển hạ tầng đường bộ Những năm qua, hệ thống hạ tầng đường bộ của nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng. Phần lớn các đường quốc lộ (QL) đã được xây mới hoặc được nâng cấp, đã rút ngắn khoảng cách giữa các địa phương; năng lực vận tải cũng được nâng cao. Bên cạnh đó, giao thông nông thôn cũng phát triển đáng kể, số xã không có đường bê tông ngày càng giảm đã góp phần quan trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn. Không chỉ tập trung phát triển về mặt số lượng, hệ thống hạ tầng đường bộ nước ta trong thời gian qua cũng đã xây dựng được các công trình theo tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, như đường cao tốc Thăng Long, cầu Rạch Miễu, Bãi Cháy… hay một số dự án mới được khởi công như tuyến Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Hải Phòng, Cầu Giẽ - Ninh Bình, Nội Bài – Bắc Ninh.
theo tiêu chuẩn đường ô tô cao tốc loại A. Như vậy, trong một vài năm tới Việt Nam sẽ thực sự là đại công trường của các tuyến đường cao tốc lớn3. Mặc dù đã có những kết quả vượt bậc trong thời gian qua, song mạng lưới hệ thống đường bộ của nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Phần lớn các con đường của nước ta còn hẹp, chưa đồng bộ nhiều con đường vẫn chưa thể thông xe suốt cả năm nhất là vào mùa mưa không thể sử dụng được đối với các đường khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Ngoài ra, số lượng đường chưa được trải mặt còn rất lớn, các đoạn đường dở dang chưa hoàn thành, chưa thông xe toàn bộ theo thiết kế, cũng như chất lượng và kết cấu nề, số đường được trải mặt mới chỉ chiếm khoảng 52% trên tổng số chiều dài đường và được thể hiện rõ ở Bảng 1.1 3 Nguồn: http://www.1 Mạng lưới đường bộ Việt Nam (1999-2006) Tổng Chiều dài của các loại mặt đường (km) Loại Năm chiều Bê đường Bê tông Xử lý Đá dài tông Đất Khác xi măng nhựa dăm (km) nhựa Quốc lộ 1999 15,520 5,354 94 5,828 3,178 - - 2006 17,295 7,705 342 6,410 2,838 - - Tỉnh lộ 1999 18,344 829 157 5,609 7,309 - - 2006 23,138 3,474 701 11,030 4,816 3,073 44 Huyện lộ 1999 37,437 - - - - - - 2006 54,962 739 1,082 4,608 14,631 32,392 1,510 Đường 1999 134,463 - - - - - - liên thôn 2006 141,442 1,616 18,442 9,226 34,897 77,261 - Đường đô 1999 5,919 2,297 - 3,622 - - thị 2006 8,536 2,465 776 2,750 976 1,568 - Đường 1999 5,451 - - - - - - khác 2006 6,414 - 169 575 2,726 2,944 - Tổng 1999 224,639 - - - - - cộng 2006 251,787 15,999 21,512 34,600 60,884 117,238 1,554 Nguồn: Tổng Cục Đường bộ (2006) Theo Bộ Giao thông Vận tải, trong 5 năm tới để bảo trì, nâng cấp hệ thống giao thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, cần làm mới, cải tạo, nâng cấp mở rộng khoảng 6.000km đường (trong đó có 1.000km đường cao tốc), 44.600m cầu đường bộ4. Hơn thế nữa, để đáp ứng được nhu cầu về vận tải hàng hóa và hành khách với chất lượng tốt, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1327/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng CP ngày 24/08/2009 về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển GTVT đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 20305. 4 Nguồn: http://giaothongvantai.vn 5 Xem: Phụ lục 1 -7- Tuy nhiên, nguồn đầu tư cho phát triển GTVT hiện nay phụ thuộc chính vào ngân sách nhà nước và vốn vay ODA. Trong tổng chi phí đầu tư cho các dự án từ trung ương đến địa phương dưới sự quản lý của Bộ GTVT, nguồn vốn vay ODA chiếm 42%, phần còn lại được lấy từ ngân sách nhà nước, chỉ có 5% được huy động từ thành phần tư nhân thông qua dự án Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (BOT), thể hiện ở Hình 1.
Nguồn: Tạp chí GTVT [1] Hình 1.1: Nguồn đầu tư phát triển GTVT 1. Quản lý đầu tư trong xây dựng công trình đường bộ 1. Khái niệm Sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng có những đặc điểm khác biệt so với sản phẩm và sản xuất sản phẩm của ngành khác. Vì đây là sản phẩm mang tính chất đơn chiếc, quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sản xuất xây dựng dài, phải trải qua nhiều giai đoạn như lập dự án đầu tư xây dựng, thiết kế công trình, -8- thi công công trình, nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng.
Trong mỗi giai đoạn lại diễn ra nhiều hoạt động khác nhau với sự tham gia của nhiều đơn vị liên quan. Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng các biện pháp chính sách, pháp luật, cơ chế nhằm làm đối tượng quản lý phát triển theo hướng nhất định. Trong quản lý thường xác định rõ: + Chủ thể quản lý + Đối tượng quản lý + Phương pháp quản lý Quản lý là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý vào các hoạt động xây dựng công trình đường bộ nhằm thay đổi hoặc duy trì hoạt động đó, mang lại hiệu quả quản lý. Đối với các công trình xây dựng có lẽ có thể khảng định quản lý về tiến độ là vấn đề phức tạp nhất, để đạt được tiến độ đề ra quá trình quản lý cần có sự phối hợp chặt chẽ, hợp lý của các yếu tố trên.
Đặc trưng của quản lý đầu tư đường giao thông Quản lý đầu tư xây dựng đường giao thông là khoa học về quản lý bao gồm các vấn đề, nhân tố ảnh hưởng đến dự án. Để quản lý đầu tư có hiệu quả, cán bộ quản lý dự án cần được đào tạo bài bản và hiểu biết về luật, văn bản nhà nước, kiến thức về đường giao thông nói chung. Do vậy có thể khảng định muốn quản lý đầu tư hiệu quả cần thiết có những nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn mới có thể nâng cao hiệu quả quản lý trên các phương diện như hiệu quả nguồn vốn, hiệu quả kinh tế xã hội và đặc biệt là đạt được tiến độ đầu tư đã đề ra. Vai trò của nhà nước trong quản lý đầu tư đường giao thông Tạo hành lang pháp lý cho các đối tượng, chủ thể quản lý thực hiện hoạt động quản lý của mình Giải quyết công tác đối ngoại: thu hút đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh Giải quyết các mối quan hệ giữa các khối tư nhân, nhà nước, giải quyết các mâu thuẫn về phát triển kinh tế xã hội Tổ chức và sắp xếp lại bộ máy quản lý để phù hợp với tình hình mới, đổi mới phương thức hoạt động Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn luật được ban hành trong thời gian qua đã xác lập hành lang pháp lý quan trọng tạo điều kiện phát triển bền vững các hoạt động xây dựng ở nước ta và đưa ra các yêu cầu của pháp luật nhằm QLDA đầu tư xây dựng công trình đạt hiệu quả.
Tại khoản 6, điều 1, Nghị định của Chính phủ số 112/2006/NĐ – CP [2] đã quy định rõ nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình của người quyết định đầu tư trước khi phê duyệt dự án là: Xem xét các yếu tố bảo đảm tính hiệu quả của dự án bao gồm: sự cần thiết đầu tư, quy mô, công nghệ; thời gian, tiến độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. Xem xét các yếu tố bảo đảm tính khả thi của dự án bao gồm: sự phù hợp với quy hoạch; nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có); khả năng giải phóng mặt bằng, khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án; kinh nghiệm quản lý của chủ đầu tư; kết quả thẩm định thiết kế cơ sở; khả năng hoàn trả vốn vay; giải pháp phòng chống cháy nổ; các yếu tố ảnh hưởng đến dự án như quốc phòng, an ninh, môi trường trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của các cơ quan liên quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Như vậy, theo các quy định hiện hành của Nhà nước, việc xem xét và khẳng - 10 - định tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ phải được làm rõ về nhiều mặt trong suốt thời gian phân tích hoạt động của dự án (vòng đời của dự án từ giai đoạn hình thành – chuẩn bị - triển khai thực hiện – đánh giá – quản lý vận hành – đánh giá hiệu quả) trước khi ra quyết định đầu tư thực hiện dự án để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả kinh tế xã hội của dự án, hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Tình trạng chậm tiến độ trong xây dựng công trình đường bộ 1.
Dự án chậm tiến độ do khâu lập dự án còn nhiều thiếu sót Lập dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (có điểm khởi đầu và điểm kết thúc xác định rõ ràng). Lập dự án với tư cách là đối tượng của quản lý, dự án là một nhiệm vụ mang tính chất một lần, có mục tiêu rõ ràng, yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vượt mức dự toán đó. Nói cách khác, dự án là một nhiệm vụ mang tính chất một lần, có một mục tiêu đặc biệt và yêu cầu phải được hoàn thành trong một điều kiện ràng buộc nhất định như thời gian, tiền vốn và nguồn lực. Công trình xây dựng là một loại công việc có đặc trưng điển hình của một dự án.
Theo Luật đầu tư 2006, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Một dự án xây dựng là một dự án đầu tư tài sản cố định, trong đó bao gồm đầu tư xây dựng cơ bản (dự án xây dựng mở rộng khả năng sản xuất như xây mới, xây dựng mở rộng.