Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cùng với sự phát triển chung của kinh tế thế giới, nền nông nghiệp cũng đang trên đà phát triển với hàng loạt các giống cây trồng mới được lai tạo, chuyển gen…có năng suất cao phẩm chất tốt đang thay dần những giống cũ, bản địa, cổ truyền năng suất thấp. Nhiều biện pháp thâm canh mới đang được áp dụng vào sản xuất trên nhiều vùng sản xuất rộng lớn tạo ra sản phẩm năng suất, chất lượng cao, có tính cạnh tranh cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và hướng tới thị trường xuất khẩu. Theo các tiêu chí của thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practice - GAP) như: EUROGAP, ASEANGAP… việc sản xuất rau an toàn (RAT) theo tiêu chuẩn GAP là một nhu cầu khách quan trong xu thế hội nhập.
Trong tình hình nước ta đã tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO), khu vực thương mại tự do (AFTA) hàng rào thuế quan được thay thế bởi các qui định về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật. Sản phẩm nông nghiệp phải đảm bảo các tiêu chuẩn xuất khẩu là đòi hỏi khách quan. Do đó, việc quy hoạch, xây dựng vùng sản xuất theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm là nhu cầu cần thiết để kịp thời đáp ứng cho việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao cho thị trường trong nước và ra thị trường thế giới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay. Phân bón là dinh dưỡng không thể thiếu để cây trồng sinh trưởng và phát triển thuận lợi.
Song, cũng giống như các nhân tố đất, nước, thuốc BVTV, phân bón luôn tiềm tàng, ẩn chứa rất nhiều nguy cơ ô nhiễm cho cây trồng đặc biệt là cây rau. Đó là các nguy cơ ô nhiễm về sinh học (virus, vi khuẩn, nấm) và hóa học (các nguyên tố kim loại nặng, hàm lượng nitơrat). Vì vậy, việc sử dụng phân bón hợp lý và an toàn cho cây trồng nói chung, cây rau nói riêng là một việc làm cần thiết, phục vụ cho sức khỏe con người. Trong hoạt động sản xuất nông n 5 nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm.
Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng. Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc. Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống.
Lượng nitrat có thể tích lũy trong mỗi loại rau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó liều lượng phân đạm sử dụng cho cây trồng được đặc biệt quan tâm. Sự có mặt của nitrat trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và dư lượng nitrat trong mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem như một độc chất. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, người nông dân chỉ chú trọng đến năng suất, thâm canh tăng vụ chạy theo lợi nhuận. Nên đã trồng rau theo cách bón phân cho rau một cách bừa bãi, phun thuốc trừ sâu một cách không có giới hạn, thậm chí là cả các loại thuốc không được phép sử dụng.
Dẫn đến mỗi năm có hàng nghìn ca ngộ độc thực phẩm, do sử dụng các sản phẩm rau tươi có chứa dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật vượt xa mức độ cho phép. Thực tế, việc hàng ngày ăn phải rau không đảm bảo tiêu chuẩn là mầm mống gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư, ngộ độc thần kinh, rối loạn chức năng thận…. Thuốc bảo vệ thực vật cũng là một nhân tố gây mất ổn định môi trường, nó gây ô nhiễm nguồn nước, đất, để lại dư lượng trên nông sản phẩm gây độc cho người và nhiều loài động vật máu nóng. Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao n 6 giờ hết, nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật mới, trong đó nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học có hiệu quả cao, an toàn với môi trường được ra đời.
Màng phủ nông nghiệp ngày càng được sử dụng rộng rãi vì những lợi ích của nó đối với nhiều loại cây trồng. Đối với những loại cây rau: cải bắp, mướp đắng, dưa chuột, ớt, đậu đũa, côve … thì biện pháp sử dụng màng phủ nông nghiệp là giải pháp tối ưu. Vì như vậy sẽ kiểm soát được độ ẩm trong đất. Mùa mưa lượng nước mưa không trực tiếp rơi xuống mặt luống nên bộ rễ không bị úng nước do thiếu oxy, mặt luống không bị trơ mòn làm trơ rễ.
Đất tơi xốp suốt vụ giúp duy trì độ ẩm đất ổn định suốt mùa vụ, bộ rễ rau lan toả khắp mặt líp. Sử dụng màng phủ còn giảm tối đa được công làm cỏ. Cây trồng có lá già không trực tiếp tiếp xúc với mặt đất nên giảm được nguồn nấm bệnh lây lan từ đất. Một số côn trùng do ảnh hưởng của màng phủ nên không có chỗ trú ẩn, khả năng gây hại giảm: như bù lạch, rầy mềm trên dưa hấu, sâu ăn tạp.
Từ đó giảm lượng thuốc BVTV phải phun. Khi bón phân vào ruộng rau có màng phủ sẽ giảm sự rửa trôi phân bón, đặc biệt giảm bốc hơi và rửa trôi của phân đạm bón vào. Màng phủ che gần hết luống đất, làm cho rau quả nằm trên không phải tiếp xúc trực tiếp với mặt đất nên giữ cho rau quả sạch làm tăng giá trị sản phẩm. Dùng màng phủ sẽ tạo cho người nông dân nhiều điều kiện ứng dụng kỹ thuật canh tác mới, giống mới vào nông nghiệp.
Thái Nguyên phấn đấu đến năm 2015, tối thiểu 20 % diện tích tại các vùng sản xuất rau an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu VietGAP, 10% tổng sản phẩm được chứng nhận và công bố sản xuất, chế biến theo quy trình sản xuất RAT. Để phục vụ cho mục tiêu trên thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cải bắp an toàn phục vụ cho sản xuất rau an toàn tại địa phương là khâu đầu tiên trong chuỗi quá trình từ đồng ruộng đến bàn ăn của một nền sản xuất hội nhập. Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trên thế giới 1.Tình hình sản xuất rau trên thế giới Theo tổ chức Nông - Lương thế giới ( FAO), trên thế giới có khoảng trên 17 triệu ha đất sử dụng cho trồng rau, bao gồm hơn 120 chủng loại rau khác nhau với sản lượng lên tới trên 245 triệu tấn. Trong đó có 12 chủng loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau trên toàn thế giới, loại được trồng nhiều nhất là cà chua 2,7 triệu ha, dưa hấu 1,93 ha, hành 1,91 triệu ha, cải bắp 1,7 triệu ha… Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, ngoài việc mở rộng diện tích, năng suất và sản lượng các loại rau cũng không ngừng tăng.
Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) 2004 15. Qua bảng trên ta thấy: Tình hình sản sản xuất rau trên thế giới từ năm 2004 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng. - Về diện tích: Từ năm 2004 - 2007 diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng nên nhanh chóng. Năm 2004 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có 15.
Nhưng đến năm 2007 đã lên tới 17. Như vậy chỉ sau 3 năm diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng 1.388 ha ( trung bình tăng 293. Qua đó ta thấy được cây rau chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới. - Về năng suất: Nhìn chung trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 14,3413 - 14,4379 tấn /ha.
n 8 - Về sản lượng: Từ năm 2004 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 4. Điều đó đã chứng tỏ nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người. Theo Trung tâm rau quả thế giới, rau là loại cây có tốc độ tăng diện tích đất trồng nhanh nhất trên thế giới. Nhiều khu vực trước đây trồng ngũ cốc và bông sợi hoặc bỏ hoang thì nay đã chuyển sang trồng các loại rau có giá trị kinh tế cao (châu á cũng là khu vực có tốc độ tăng diện tích đất trồng rau cao nhất trên thế giới hiện nay).
Trung Quốc là một quốc gia phát triển rộng nhất lớn châu lục, tốc độ tăng trưởng của ngành rau gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nước này. Trong vòng 20 năm qua, sản xuất rau của Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng trung bình trên 6%/năm. So với mặt bằng chung của các nước đang phát triển trên thế giới, tốc độ tăng trưởng của ngành rau Trung Quốc cao hơn tới 3%/năm Tính chung toàn thế giới, tốc độ tăng diện tích đất trồng rau trung bình đạt 2,8%/năm, cao hơn 1,05%/năm so với diện tích đất trồng cây ăn trái, 1,33%/năm sao với cây lấy dầu, 2,36%/ năm so với cây lấy rễ, 2,41%/ năm so với cây họ đậu. Trong khi đó, diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi lại giảm tương ứng là 0,45%/năm và 1,82%/năm [36].
Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/ năm. Các nước phát triển như Pháp, Đức, Canada… vẫn là những nước nhập khẩu rau chủ yếu. Các nước đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan và các nước nam bán cầu vẫn đóng vai trò chính cung cấp rau tươi trái vụ [17]. Cũng theo FAO (2001), sản lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người toàn thế giới là 78 kg/năm.
Riêng châu Á sản lượng rau 2001 đạt khoảng 487. Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, đạt 70 triệu tấn/năm; thứ 2 là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm. Nhìn chung, mức tăng trưởng sản lượng rau châu Á các năm qua đạt khoảng 3% năm, tương đương khoảng 5 triệu tấn/ năm .