PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề ASXH đang là vấn đề thu hút quan tâm của toàn xã hội. Trên 20 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu trong xây dựng đất nƣớc. Kinh tế tăng trƣởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tiến bộ, thu nhập bình quân đầu ngƣời trên năm ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt.
Mặc dù vậy, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng cũng xuất hiện những mặt tiêu cực tác động đến đời sống xã hội mà trong đó vấn đề ASXH là một trong những lĩnh vực chịu nhiều sức ép. Một thách thức hiện nay là đảm bảo công bằng về ASXH, tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ ASXH của những nhóm đối tƣợng yếu thế là trẻ em, ngƣời già, ngƣời khuyết tật, NNCT… và nhóm đối tƣợng chính sách, thƣơng binh, bệnh binh, mẹ liệt sỹ… Thực tế, hiện nay gia đình NCC với cách mạng và NNCT vẫn còn chịu ảnh hƣởng lớn về mặt sức khỏe, tinh thần dẫn đến đời sống gia đình gặp nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định, tình trạng thiếu việc làm phù hợp diễn ra phổ biến, mức độ đói nghèo là rất lớn và vẫn chƣa có cách giải quyết bền vững dẫn đến hàng loạt các vấn đề về ASXH chƣa đƣợc giải quyết triệt để. Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng đó, những năm qua Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách ƣu đãi đối với NCC, gia đình NCC với cách mạng và NNCT, tạo điều kiện thuận lợi giúp họ hòa nhập với cộng đồng. Ngân sách Nhà nƣớc hiện nay không chỉ tập trung vào các chính sách bảo trợ xã hội và ƣu đãi đối với NCC mà còn hỗ trợ gia đình NCC và NNCT.
Tỷ trọng đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 25,2% đến 27,8% tổng chi tiêu của Nhà nƣớc hàng năm. Trong đó, Nhà nƣớc đặc biệt ƣu tiên đầu tƣ giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ƣu đãi NCC, trợ giúp xã hội cho nhóm yếu thế .và chiếm hơn 14% tổng chi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngân sách nhà nƣớc (gần bằng chi ngân sách cho ngành giáo dục)[24]. Mức trợ cấp ƣu đãi năm 2009 tăng 2,1 lần so với năm 2006. Thực hiện chính sách ƣu đãi thƣờng xuyên cho hơn 1,4 triệu NCC.
Hiện nay, hơn 90% gia đình NCC có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cƣ cùng địa bàn[9] Phong trào đền ơn đáp nghĩa chăm lo đời sống gia đình NCC cũng đƣợc quan tâm, điều này đƣợc thể hiện thông qua 5 chƣơng trình cụ thể, bao gồm: xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sỹ già yếu con liệt sỹ mồ côi không nơi nƣơng tựa; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, và chƣơng trình ổn định đời sống thƣơng bệnh binh. Hàng năm “Qũy đền ơn đáp nghĩa” đƣợc đóng góp, hàng nghìn sổ tiết kiệm đã đƣợc trao tặng cho các gia đình chính sách còn khó khăn, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa đƣợc xây mới và sửa chữa, góp phần cải thiện chất lƣợng đời sống cho ngƣời và gia đình NCC với cách mạng đƣợc tốt hơn. Ngoài đối tƣợng gia đình NCC, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành chế độ chính sách riêng đối với NNCT điển hình là những ngƣời bị nhiễm CĐHH, con đẻ ngƣời hoạt động cách mạng bị nhiễm CĐHH và dần hình thành các chính sách độc lập, cơ bản, hệ thống đối với nạn nhân CĐDC, với những chính sách bảo trợ xã hội nhƣ trợ cấp kinh phí đào tạo, học nghề, tìm kiếm việc làm, vay vốn sản xuất… Tuy nhiên khi xem xét vấn đề ASXH đối với gia đình NCC và NNCT, thì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sách này chỉ đặt ra ở cấp vĩ mô và thực hiện chƣa thực sự hiệu quả, còn nhiều bất cập và hạn chế. Hệ thống chính sách trợ giúp đặc biệt (NCC và NNCT) quá phức tạp, nhiều chế độ, rất khó quản lý từ khâu giám định, xét duyệt đến chi trả trợ cấp, việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lƣợng còn hạn chế, thu nhập và mức sống vẫn còn nhiều khó khăn.
Các chính sách ASXH chƣa thực sự có hiệu quả. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc ta hiện nay đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống ASXH toàn diện theo hƣớng đảm bảo hài hoà giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội, từng bƣớc bao phủ hết các đối tƣợng trợ cấp xã hội, mở rộng các đối tƣợng trợ giúp cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Yên Mỹ là một trong những huyện đầu của tỉnh Hƣng Yên, điều kiện kinh tế- xã hội trong những năm gần đây đã có những bƣớc phát triển lớn, đời sống của cộng đồng đã đổi khác. ASXH đƣợc chú trọng hơn, tuy nhiên trợ cấp từ hệ thống ASXH đối với NCC với cách mạng, gia đình NCC và NNCT vẫn còn hạn chế nhƣ đã đƣợc nêu ở trên.
Vì những thực tế trên mà tác giả lựa chọn đề tài “ ASXH iv ì NCC v i cách mạng và NNCT ” huyện Yên Mỹ, tỉnh Hƣng Yên làm luận văn thạc sĩ. Luận văn sẽ góp phần mở rộng sự hiểu biết đối với thực trang tiếp cận các DVASXH cũng nhƣ việc thực hiện CSASXH ở một địa phƣơng cụ thể, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện CSASXH trong thực tế. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. N iên cứu trên t ế iới Trên thế giới, ASXH đã đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ.
Nhiều tác giả tiến hành các nghiên cứu xã hội học về ASXH trong mối liên hệ với chính sách phát triển kinh tế xã hội hay nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ của hệ thống ASXH với các chính sách của nó. Một số khác bàn đến hệ quả của các CSASXH và ASXH trong sự so sánh với các quốc gia khác nhau. Trong những năm 30 của thế kỷ 20, mô hình ASXH phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu, châu Mỹ và Mỹ là một trong những quốc gia có hệ thống ASXH khá nổi bật và tƣơng đối hiệu quả. Theo các tài liệu hiện có, khái niệm ASXH đã đƣợc dùng chính thức lần đầu trong tiêu đề một đạo luật của Mỹ năm 1935- Đạo luật về ASXH đƣợc Quốc hội thông qua với mục đích tạo ra mạng lƣới đảm bảo an toàn tài chính cho ngƣời dân làm việc và gia đình của họ, nó có ý định cung cấp, trợ giúp tài chính cho những ngƣời đã từng đi làm nhƣ khi có tuổi cao không còn đủ năng lực kiếm tiền nuôi bản thân.
Tuy nhiên, Luật này mới chỉ đề cập đến các rủi ro về già 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu, chết, tàn tật, thất nghiệp và đối tƣợng không đƣợc bảo vệ, không chỉ ngƣời lao động mà cả những ngƣời nghèo, ngƣời già cô đơn. Đến năm 1938, khái niệm ASXH xuất hiện trong một đạo luật của New Zealand, nhƣng có thêm một khoản trợ cấp mới ( trợ cấp gia đình). Đến năm 1941, ASXH lại xuất hiện trong Hiến chƣơng Đại Tây Dƣơng. Sau đó tổ chức lao động quốc tế ( ILO) đã chính thức sử dụng cụm từ này cho đến nay trong các công ƣớc của mình.
Đặc biệt, ngày 28/6/1952, Hội nghị quốc tế về lao động đã thông qua Công ƣớc số 152- Công ƣớc quy định cách quy phạm tối thiểu về ASXH. Tổ chức lao động quốc tế ILO cũng đã thừa nhận ASXH là một trong những nguyện vọng sâu sắc nhất, phổ biến nhất của mọi dân tộc trên thế giới và đƣợc ghi nhận trong Tuyên ngôn của Đại hội đồng liên hiệp quốc về quyền con ngƣời. Trong khuôn khổ phát triển của hệ thống ASXH, nhiều tác giả đã nghiên cứu ASXH và phúc lợi xã hội thông qua đó giúp chúng ta có cái nhìn đối chiếu, so sánh. Cuốn sách“ A s x ộ ở á át tr “ (Social Security in Developing Countries) nhóm tác giả Ehtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills, Amartya Senv đã đề cập và mô tả các quy định ASXH ở các vùng khác nhau nhƣ Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ Latinh, và Nam Phi chỉ ra những đặc điểm, thách thức, những chƣơng trình ASXH phù hợp với điều kiện hoàn cành từng nƣớc.
Cuốn sách đã tập trung phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản của ASXH, các tổ chức, chiến lƣợc hành động của ASXH thông qua hệ thống ASXH ở các nƣớc đang phát triển. Từ những nghiên cứu của cuốn sách giúp chúng ta so sánh và đánh giá rộng hơn các hệ thống ASXH trên thế giới.[ 36] Cũng nghiên cứu về ASXH ở các nƣớc đang phát triển, Patricia Justino – Đại học Sussex trong bài “ASXH ở á át tr n: Thần thoại ho c cần thiết? Bằng chứng từ Ấ ộ ( Social security in developing countries: Myth or necessity? Evidence from India) thực hiện tháng 9 năm 2013 đã sự dụng bằng chứng thực nghiệm từ Ấn Độ để chỉ ra hệ thống bảo trợ xã hội ở các nƣớc đang phát triển. Nội dung chủ yếu của bài viết là phân tích thực nghiệm về tác động của CSASXH đến hiệu quả kinh tế Ấn Độ giữa năm 1973 và năm 1999, sử dụng một trong hai giai đoạn trong trật tự mô hình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vuông thích nghi với dữ liệu từ một bảng điều khiển của 14 bang của Ấn Độ. Kết quả cho thấy các CSASXH là một trong những yếu tố nội sinh trong quá trình phát triển chính trị- xã hôi và tăng trƣởng kinh tế của các nền kinh tế đang phát triển.
Khác với những tác giả trên, báo cáo (2013):“ Mở rộ ASXH: C í sá v á át tr “ của Wouter Van Ginneken- Văn phòng Lao động quốc tế lại tập trung vào đánh giá bốn chƣơng trình ASXH là: BHYT, lƣơng hƣu, thất nghiệp và bảo vệ lợi ích xã hội dựa vào thuế, đánh giá các xu hƣớng chính và các vấn đề của chính sách đối với việc mở rộng ASXH tại các nƣớc đang phát triển và xem xét các khía cạnh giới trong quá trình mở rộng ASXH. Kết quả của báo cáo đã chỉ ra đƣợc mối liên hệ giữa quá trình phát triển và tác động của ASXH đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo, nhìn nhận ASXH nhƣ một công cụ chính để ứng phó với các hậu quả tiêu cực của toàn cầu.