phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Hình tƣợng cái tôi trữ tình trong tập thơ Tiếng thu. Chƣơng 2: Thời gian và không gian nghệ thuật trong tập thơ Tiếng thu. Chƣơng 3: Một số phƣơng diện nghệ thuật. 7 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 HÌNH TƢỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNHTRONG TẬP THƠ TIẾNG THU Để nghiên cứu những vấn đề trọng tâm thuộc phƣơng diện nghệ thuật, chúng tôi chọn hƣớng tiếp cận từ các vấn đề về hình tƣợng cái tôi trữ tình, thời gian và không gian trong thơ Lƣu Trọng Lƣ.
Ở góc độ lí luận văn học, chúng tôi xin đƣa ra quan điểm về hình tƣợng nghệ thuật mà chúng tôi dựa vào để nghiên cứu thế giới hình tƣợng trong thơ Lƣu Trọng Lƣ. Thế giới hình tƣợng là sản phẩm của phƣơng thức chiếm lĩnh, thể hiện và cải tạo hiện thực theo qui luật của nghệ thuật. Nói cách khác, nghệ sĩ tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tƣ tƣởng tình cảm của mình, giúp con ngƣời thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh – chất liệu, phƣơng tiện để thực hiện mục tiêu đó chính là hình tƣợng. Thế giới hình tƣợng ấy tồn tại trong một không gian riêng, thời gian riêng và có những giá trị riêng.
Nó chịu sự chi phối của nhân sinh quan và thế giới quan của nhà văn. Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, thì “hình tượng nghệ thuật (image) chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Giá trị trực qua độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật. Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng.
Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận. Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần. Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình tượng một tập thể người (như hình tượng nhân dân hoặc hình tượng Tổ quốc) với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú. Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hình tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí 8 tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc,.
Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ. Hình tượng nghệ thuật không phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại. Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thuật” [52. Hình tƣợng cái tôi trữ tình trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Lý luận văn học tồn tại một khái niệm là hình tượng tác giả.
Hình tƣợng tác giả trong tác phẩm văn học gắn với ý thức của tác giả về vai trò xã hội, tƣ thế văn học rất đa dạng của mình. Cơ sở tâm lí của hình tƣợng tác giả là hình tƣợng “cái tôi” trong nhân cách mỗi ngƣời thể hiện trong giao tiếp. Hình tƣợng cái tôi chỉ đƣợc hình thành khi nhà thơ có một quan niệm nghệ thuật, một cái nhìn riêng về cuộc đời. Bởi thơ ca là sự bộc lộ số phận, nhu cầu của cá nhân giữa cõi đời đang sống.
Và nhƣ thế, hình tƣợng cái tôi trữ tình trong thơ bộc lộ bản sắc tâm hồn, tiềm năng sáng tạo và khả năng đồng hóa hiện thực cảu mỗi nhà thơ. Các nhà thơ lớn đều xây dựng đƣợc cái tôi trữ tình độc đáo, đa dạng và phong phú, mang dấu ấn riêng trong nền thi ca nhân loại, và cũng luôn mang dấu ấn của thời đại. Hình tƣợng một cái tôi khát khao giao cảm trong thơ Xuân Diệu có cái “bồng bột” của buổi đầu giao thoa gió Đông, gió Tây khác với niềm khát khao giao cảm nồng nàn của cái tôi trong thơ Bô-đơ-le; và cái tôi thích chơi ngông trong thơ Tản Đà lại có phần bơ vơ côi cút giữa dòng giao thời chứ không “vút tới trời” nhƣ cái tôi ngông ngạo trong thơ Lí Bạch. Luận văn này nghiên cứu hình tƣợng cái tôi ở cấp độ nhà thơ trong một tập thơ tiêu biểu – hình tƣợng cái tôi giống nhƣ một kiểu nhân vật trong tác phẩm văn học.
Nhà thơ đã tách ra khỏi xã hội nhƣ giọt nƣớc tách ra ngoài biển cả để nhìn ngắm đối tƣợng thẩm mĩ một cách đầy đủ, tƣờng tận hơn. Tuy thế, hình tƣợng cái tôi không hoàn toàn đồng nhất với con ngƣời tác giả mà nó thực 9 chất là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân nhà thơ tạo đƣợc một sự đồng cảm trong lòng ngƣời đọc. Từ đây, cái tôi loại hình chuyển sang cái tôi tính cách, các nhà thơ ý thức về mình nhƣ một thế giới phức tạp. Về cái tôi Lƣu Trọng Lƣ, trong Thi nhân Việt Nam, hai nhà phê bình Hoài Thanh - Hoài Chân trƣớc hết xác định vai trò Lƣu Trọng Lƣ trên tƣ cách “Người hưởng ứng thứ nhất” phong trào Thơ Mới, nhấn mạnh chất thơ và “dòng thơ” Lƣu Trọng Lƣ, xác định những nét riêng đặc sắc của phong cách thơ đặt trong tƣơng quan một thời đại thi ca: “Tôi muốn xếp riêng vào một dòng những nhà thơ tuy có chịu ảnh hưởng phương Tây nhưng rất ít và cũng không chịu ảnh hưởng thơ Đường.
Thơ của họ có tính cách Việt Nam rõ rệt. Đứng đầu dòng này là Lưu Trọng Lư. Điều ấy không có gì lạ. Lưu Trọng Lư nhác đọc sách nhất trong các thi sĩ đương thời.
Họ Lưu ưa sống trong cuộc đời nhiều hơn trong sách vở. Sách Tàu hay sách Tây cũng vậy. Thi nhân chỉ nhớ mang máng một ít Kiều, một ít Chinh phụ ngâm, năm bảy câu trong bản dịch Tỳ bà hành cùng vài bài cổ phong từ khúc của Tản Đà. Trong những thể thơ ấy, Lưu Trọng Lư đã gửi rất dễ dàng nỗi đau buồn riêng của một người thanh niên Việt Nam thời mới… Các nhà thơ về dòng này thường có lời thơ bình dị.
Họ ít ảnh hưởng lẫn nhau và cũng ít có ảnh hưởng đối với thi ca cận đại. Thi phẩm của họ có tính cách vĩnh viễn nhiều hơn tính cách một thời. Vả họ nương vào thanh thế phương Tây cũng ít.” Rồi sau khi cảm nhận, phân tích, lý giải, biện luận về mối quan hệ giữa đời và thơ, thế giới tƣởng tƣợng, hình ảnh và âm điệu câu thơ Lƣu Trọng Lƣ, hai ông đi đến kết luận: “Sao lại có người có thể đọc những câu thơ như thế mà vẫn dửng dưng. Họ bảo những nỗi đau thương ấy thường quá.
Vâng, thường, thường lắm, thường như hầu hết những nỗi đau thương thành thực của loài người. Tôi không muốn nói nhiều. Trước sự đau thương của người bạn, tôi muốn im lìm, kính cẩn. Tôi chỉ biết, dầu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng Lư.
Có những bài thơ tôi cứ vương vấn trong trí tôi hằng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà 10 chính là tiếng lòng thổn thức cũng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta”… [57. Hình tƣợng cái tôi trữ tình trong tập thơTiếng thu Với sự bùng nổ của ý thức cá nhân, Thơ Mới đƣợc coi là một “thời đại của cái tôi”. Là một thủ lĩnh của Thơ Mới, cái tôi trữ tình trong thơ Lƣu Trọng Lƣ có những đặc trƣng thống nhất trong cả tập thơ Tiếng thulà Cái tôi mơ mộng, Cái tôi cô đơn, Cái tôi thành thực, Cái tôi tha thiết với cuộc đời.
Hình tƣợng cái tôi trữ tình chỉ hình thành khi nhà thơ có một quan niệm nghệ thuật,một cái nhìn riêng về cuộc đời. Bởi thơ ca là số phận, nhu cầu cá nhân của cõi đời đang sống. Hình tƣợng cái tôi trữ tình trong nghệ thuật nói chung và trong thơ nói riêng là một yếu tố cực kì quan trọng,bộc lộ bản sắc,tiềm năng và khả năng đồng hóa hiện thực của ngƣời nghệ sĩ, của nhà thơ. Những nhà thơ lớn đều có cái tôi trữ tình độc đáo,đa dạng và phong phú ,in dấu ấn riêng trong nền thơ dân tộc.
Ở sáng tạo của các nhà thơ lớn,cái tôi bƣớc vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tƣợng toàn vẹn. Khái niệm hình tƣợng cái tôi nhằm xác định một chủ thể trữ tình đang tự bộc lộ với toàn bộ sức mạnh nhân cách,với mọi khả năng của nó.Hình tƣợng cái tôi này chính là nhân vật trung tâm trong tác phẩm thơ,mang vẻ đẹp độc đáokhông lặp lại. Ở đây, chúng tôi nghiên cứu hình tƣợng cái tôi ở cấp độ nhà thơ trong một tập thơ tiêu biểu.Ở cấp độ này, hình tƣợng cái tôi là một kiểu nhân vật trong tác phẩm văn học. Nhân vật này giống với nhân vật trong tác phẩm tự sự.
Song, cái tôi trữ tình hiện lên qua cách cảm thụ đời sống,qua cái nhìn qua giọng điệu. Hình tƣợng cái tôi trữ tình đến với ngƣời đọc bằng tâm trạng,qua tâm trạng. Nó không hoàn toàn đồng nhất với con ngƣời tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân nhà thơ “ nghe thấy mình trong người khác, với người khác và cho người khác” [ 21. Hình tƣợng cái tôi luôn mang dấu ấn của thời đại.
Nếu nhƣ “đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ cổ điển là tính chất phi cá thể, siêu cảm giác” [21. 11 Với hình tƣợng cái tôi nhƣ thế, ta có thể hình dung diện mạo của nhà thơ qua hành trang của con ngƣời với tƣ cách một loại hình xã hội : Nhà thơ minh quân, nhà thơ tăng lữ, nhà thơ ẩn sĩ …thì đến thơ ca lãng mạn, thế giới đƣợc nhìn ngắm với con mắt khác “ cá nhân tách khỏi xã hội, giọt nước ra ngoài biển cả” [21.Tách ra ngoài để nhìn ngắm xã hội một cách đầy đủ, tƣờng tận hơn. Từ đây cái tôi ngoại hình chuyển sang cái tôi tính cách các nhà thơ ý thức về mình nhƣ một thế giới phức tạp.