Chương 1: Kết cấu tiểu thuyết và Haruki Murakami trong bầu trời văn chương hậu hiện đại Chương 2: Kết cấu cốt truyện trong tiểu thuyết của Haruki Murakami Chương 3: Kết cấu nhân vật trong tiểu thuyết của Haruki Murakami Chương 4: Kết cấu không - thời gian trong tiểu thuyết của Haruki Murakami Cuối cùng là thư mục tài liệu tham khảo. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KẾT CẤU TIỂU THUYẾT VÀ HARUKI MURAKAMI TRONG BẦU VĂN CHƢƠNG HẬU HIỆN ĐẠI 1. Kết cấu tiểu thuyết 1. Khái niệm kết cấu Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật.
Trên một mức độ lớn có thể nói sáng tác là kết cấu. Khi người ta nói xây dựng tác phẩm, xây dựng cốt truyện, xây dựng tính cách, xây dựng cấu tứ trong thơ, thì đã xem tác phẩm như một công trình kiến trúc. Bản thân thuật ngữ kết cấu cũng mượn từ kiến trúc, hội họa, nhằm tạo ra một công trình hợp mục đích tối đa. Có người gọi kết cấu là nghệ thuật thống nhất những yếu tố khác thời gian và khác không gian.
Có người lại gọi kết cấu là sự kết hợp yếu tố tinh thần với yếu tố vật chất, yếu tố vận động với yếu tố đứng im, yếu tố hữu hạn với yếu tố vô hạn, yếu tố chủ quan với yếu tố khách quan. Có thể nói kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm nhằm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung, cuộc sống và tư tưởng tác phẩm và nó chỉ có ý nghĩa khi nào nó phục vụ cho việc biểu hiện một nội dung nhất định. Nếu kỹ thuật, thủ pháp trong tác phẩm văn học là có giới hạn thì kết cấu là vô hạn.
Kết cấu cũng không đồng nhất với cấu trúc. Cấu trúc không cho thấy được tính nghệ thuật sinh động của hình thức tác phẩm. Cấu trúc tác phẩm chỉ là cái phần ổn định bất biến của kết cấu tác phẩm, chứ không phải toàn bộ kết cấu. Kết cấu là toàn bộ tổ chức tác phẩm trong tính độc đáo, sinh động, gợi cảm của nó.
Kết cấu không giống với cách tổ chức của thể loại, bố cục chung của một thể văn, nguyên tắc của một luật thơ cụ thể và cả mô hình tư duy của một tác giả thường theo những liên kết, những công thức và biện pháp có sẵn mà kết cấu của một tác phẩm liên kết theo sự phát hiện đời sống và suy nghĩ của nhà văn, tạo thành một hệ thống liên kết có hiệu quả tư tưởng - thẩm mỹ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bản thân thuật ngữ kết cấu được mượn từ hội hoạ và kiến trúc. Kết cấu chính là tổ hợp những tài liệu khác nhau trong một không gian nhất định nhằm hoàn thành công trình hợp lý tối đa về cấu trúc, thoả mãn đến mức cao nhất mục đích đã định của công trình. Trên đại thể, hoàn toàn có thể nhìn nhận vấn đề kết cấu tác phẩm văn học dưới một giác độ như vậy.
Thực tế công việc kết cấu tác phẩm văn học chính là “nhào trộn” kinh nghiệm đời sống nhân sinh trong vật liệu ngôn từ để xây dựng thành tác phẩm cụ thể. Kết cấu một sáng tác ngôn từ chính là mô thức tổ chức chỉnh thể nghệ thuật trong sáng tác bằng sự viết hay trong tiếp nhận bằng sự đọc. Kết cấu luôn là một lối kiến tạo - cấu thành sinh động và có một sự trừu tượng. Bản thân kết cấu vừa là sự theo dõi sống động đồng thời cũng là hình dung tĩnh tại.
Như vậy, kết cấu là một tiêu chí quan trọng để đánh giá về “chất” của một tác phẩm văn học. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kết cấu trong các bộ giáo trình Lí luận văn học và Từ điển thuật ngữ văn học. Sách Lí luận văn học do GS. Hà Minh Đức (chủ biên) viết: “Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan theo chiều hướng tư tưởng nhất định” [5; tr.
Tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 Thuật ngữ văn học đưa ra: Kết cấu là “Sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tác phẩm, tùy theo nội dung và thể tài. Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng. Các quy luật của kết cấu - là kết quả của nhận thức thẩm mỹ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại. Kết cấu có tính nội dung độc lập; các phương thức và thủ pháp kết cấu sẽ cải biến và đào sâu hàm nghĩa của cái được mô tả.
Từ điển Thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) thì coi kết cấu, tiếng Pháp (composition) là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Thuật ngữ kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp hơn bố cục. Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm. Kết cấu bao gồm bố cục, tổ chức tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện… sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật ” [6; tr.
Qua những khái niệm của nhà lí luận trên để thấy một điều rằng: Mỗi tác phẩm là một “sinh mệnh”, một “cơ thể sống” nên kết cấu tác phẩm là một kiến trúc, một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể của tác phẩm. Có thể ví kết cấu giống như một mạng lưới được đan bện bởi sự cố kết của những đường dây mắt xích mà từ mạng lưới này tác phẩm sẽ hiện lên trong tính chỉnh thể và sinh động nhất. Kết cấu còn bộc lộ nhận thức, tài năng, phong cách của người nghệ sĩ. Vai trò quan trọng nhất của kết cấu là tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tập trung, tư tưởng thống nhất, sao cho chủ đề tư tưởng thấm sâu vào từng bộ phận của tác phẩm kể cả những chi tiết nhỏ nhất; Kết cấu đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ đề tư tưởng với hệ thống tính cách; tổ chức bố cục của cốt truyện thành các phần, chương, đoạn, lớp, cảnh một cách hợp lý.
Nhờ kết cấu, tác phẩm văn học trở nên mạch lạc có “vẻ duyên dáng của sự trật tự” (Horatius). Kết cấu tác phẩm văn học gồm nhiều hình thức tổ chức: việc phân bố các nhân vật (hệ thống hình tượng nhân vật), các sự kiện hành động (kết cấu cốt truyện), các phương thức trần thuật (kết cấu trần thuật), các thủ pháp văn phong (kết cấu ngôn từ), các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn ngoại đề (kết cấu yếu tố ngoài cốt truyện)… Ở tác phẩm trữ tình, kết cấu còn bộc lộ ở tính cân đối của các đơn vị ngữ điệu, cú pháp, nhịp điệu. Phạm vi kết cấu còn bao gồm sự tương ứng giữa các bình diện của hình thức văn học nhờ đó tạo ra hệ thống môtip đặc trưng cho từng tác phẩm, từng tác giả, từng khuynh hướng văn học. Kết cấu tiểu thuyết Khái niệm kết cấu là một công cụ lý luận quan trọng trong phê bình, phân tích tiểu thuyết.
Tiểu thuyết là một hoạt động của nghệ thuật tự sự ngôn từ, do vậy kết 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấu tiểu thuyết phải được tìm hiểu trên cơ sở quan sát cả ba bình diện sáng tác (viết), văn bản (tác phẩm tri giác bằng sự đọc), tiếp nhận (đọc hiểu giải mã). Trong quá trình sáng tác, tác giả tổ chức các tài liệu đời sống và kinh nghiệm nhân sinh, bỏ đi chỗ “thừa”, lấy vào chỗ “thiếu”, dung hợp thành những bức tranh nghệ thuật đ- ược khái quát theo những quy luật thẩm mỹ nhất định. Việc tổ chức này chính là quá trình xây dựng kết cấu hình tượng tác phẩm. Nói cụ thể, đó chính là nghệ thuật đem những nội dung khác biệt về không gian - thời gian thống nhất lại với nhau.
Nghệ thuật đem các nhân tố tinh thần và vật chất; sống động, lưu chuyển và tĩnh tại, tồn tại sẵn; hữu hạn và vô hạn; chủ quan và khách quan… kết hợp thành hình tượng tác phẩm thống nhất. Trong ý nghĩa này mà nói, kết cấu chính là sáng tác. Kết cấu hình tượng tác phẩm sản sinh đồng thời với ý đồ nghệ thuật và được cụ thể hoá dần theo chân sự tiến triển của hình tượng nghệ thuật. Sau cùng, kết cấu hình tượng tác phẩm sẽ được xác định bằng văn bản tác phẩm, ngoài hiện ra ở việc sắp xếp bố cục, trong việc đem nội dung hình tượng thực tế hóa vào các phiến đoạn trần thuật mà truyền thống vẫn gọi bằng các thuật ngữ chương, đoạn, khổ truyện, hoặc nói dãy phiến đoạn theo trình tự sẽ định (Sequence) - tức chính là cái quá trình của kết cấu văn bản trần thuật.
Nhà văn không phải là sáng tạo xong “kết cấu hình tượng tác phẩm” rồi sau đó mới tiến hành “kết cấu văn bản trần thuật”. Trong thực tế sáng tác, hai việc đó là đồng thời, là bóng hình xuôi ngược có nhau. Kết cấu phản ánh quá trình nhà văn biểu đạt một chân lý nghệ thuật trong một cấu trúc chỉnh thể ngôn từ cụ thể mà hiến thân cho cuộc vật lộn với các tài liệu kinh ngiệm nhân sinh. Kết cấu đương nhiên cũng thể hiện chính quá trình vận động của tư duy nghệ thuật của nhà văn.
Tư tưởng sinh động của nhà văn biểu hiện ở bản thân kết cấu. Chọn dùng một phương án kết cấu nào, chung quy là nhằm nâng cao tác động nghệ thuật và sức mạnh biểu hiện chủ đề cho đề tài tác phẩm. “Nhận dạng” kết cấu tiểu thuyết trong quan hệ đối sánh với kết cấu các thể loại khác.