Chương I: Nếp sống trong gia đình và ngoài xã hội. - Chương II: Nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, mừng thọ, mừng sinh nhật, lễ hội, bài trừ mê tín dị đoan. - Chương III: Bảo vệ phát triển sản xuất, bảo vệ các công trình công cộng, bảo vệ môi trường giữ gìn cảnh quan làng xóm. - Chương VI: Bảo vệ an ninh trật tự giữ gìn kỷ cương làng xóm.
- Chương V:Tổ chức thực hiện khen thưởng kỷ luật.7 Tiểu kết Qua việc tìm hiểu nghiên cứu về mảnh đất Xuân La, ta có thể nhận thấy đây là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cũng như truyền thống văn hóa. Xuân La là một vùng đồng bằng chiêm trũng người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp tuy nhiên ở đây các ngành nghề truyền thống lại khá phát triển và hết sức đa dạng. Ngoài ý nghĩa mà kinh tế mang lại thì các nghề truyền thống 19 nơi đây còn biểu hiện ý nghĩa về mặt văn hóa khá rõ nét. Nghề nặn Tò he là một ví dụ điển hình.
Tuy giá trị kinh tế mà nghề mang lại trong thời đại hiện nay có sự thay đổi so với trước đây nhưng ai cũng nhận thấy rằng đây là một nghề truyền thống có giá trị văn hóa hết sức độc đáo. Cuộc sống của người dân nơi đây mặc dù còn nhiều điều khó khăn nhưng họ vẫn luôn cố gắng vượt lên tất cả để xây dựng quê hương, xây dựng cuộc sống của chính mình. 20 CHƯƠNG 2: NGHỀ NẶN TÒ HE XUÂN LA 2.1 Lịch sử nghề và tổ nghề. Đến với Xuân La từ người già cho đến trẻ nhỏ không ai là không thuộc câu đồng dao: “Tò he cụ bán mấy đồng? Con mua một chiếc cho chồng con chơi.
Chồng con đánh hỏng thì thôi Con mua chiếc khác con chơi một mình.” Xưa kia Tò he là sản phẩm mang nhiều ý nghĩa: ăn, chơi, cúng lễ…Cái tên “Tò he” cũng tồn tại trong dân gian từ khá lâu và người làm nghề có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất vẫn là làng Xuân La (Phượng Dực – Phú Xuyên – Hà Tây). Theo lời các cụ già trong làng kể lại thì nghề nặn Tò he có lịch sử có dễ đến hơn 300 năm tuổi. Nhưng cho đến nay thì vẫn chưa có thông tin gì chính xác về cái nghề Tò he này có từ bao giờ?.Và cũng thật lạ chẳng phải nghề bí truyền nhưng suốt hơn 300 năm qua duy chỉ có người làng Xuân La mới biết làm và tinh thục cách làm thứ đồ chơi có tên gọi Tò he này. Nghề truyền nghề, đời nối đời người đàn ông Xuân La thường gắn với việc nặn Tò he từ lúc còn để chỏm đến lúc tóc đã ngả nước thời gian.
Nghề nặn Tò he khởi đầu từ đất sét, rơm rạ.Cố nghệ nhân Đặng Văn Tố, người có công lớn trong việc gìn giữ lưu truyền nghề này kể lại: “Ngày xưa, làng Xuân La nghèo lắm. Đến tết trung thu, trẻ con không có quà để chơi. Ông cha ta mới nghĩ ra cách lấy đất sét nặn những con giống, lấy rơm rạ nung rồi lấy gạch non phết màu phơi khô mang cho trẻ con chơi. Sau đó một thời gian người ta chuyển sang dùng bột gạo để nặn Tò he, trẻ chơi xong là có thể ăn con giống.
Thời trước, khi mà đời sống của người dân Xuân La còn nghèo, đồ chơi cho trẻ con chưa có nhiều, người lớn thường hay mua Tò he cho trẻ con vừa để làm đồ chơi vừa để làm một thứ quà bánh sau những phiên chợ quê. Người làm 21 Tò he cũng thường làm trước từ nhà gánh đến chợ bán nhưng vì đông trẻ con chúng tranh cướp hết thành ra sau đó người ta không làm sẵn từ nhà nữa mà đến địa điểm bán mới làm vừa tránh bị mất mát vừa có thể làm theo yêu cầu của khách. Ban đầu người ta gọi Tò he là đồ chơi chim cò bởi chúng có hình dạng của các con vật quen thuộc với đời sống của người nông dân như: Công, gà, cá, lợn, trâu…nhưng về sau sản phẩm này thường gắn với một chiếc kèn ống sây đầu kèn có dính kẹo mạch nha, nguyên liệu làm bằng bột gạo hấp chín, màu sắc tươi rói và có nhiều chủng loại. Kèn có thể phát ra một thứ âm thanh hấp dẫn, khi thổi lên có tiếng kêu ngắt quãng: Tò….
Và vì thế người ta gọi nó là “Tò te’. Sau đó nói cho thuận miệng chệch thành “Tò he” và nhân bàn về cái tên Tò he này thì cũng có một câu chuyện được các cụ truyền tụng lý giải về cổ tích nghề Tò he ở xuân La như sau : Xưa trong làng Xuân La có một bà cụ đem thúng chim cò đi bán, có đôi vợ chồng còn rất trẻ đến mua. Lây vui niềm vui của anh chồng (và cũng chính là của mình) cô vợ mới hắng giọng hát : « Tò he cụ bán mấy đồng ? Con mua một chiếc cho chồng con chơi… » Rõ ràng phảng phất trong câu chuyện là hình ảnh tảo hôn trong quá vãng, trong cái nếp của người xưa và từ đấy người tứ xứ gọi con giống là Tò he. Tò he có nghĩa là gì thì chẳng ai luận ra nổi chỉ có câu chuyện kia thay cho lời giải thích được dẫn ra nôm na là vậy.
Nhưng gì thì gì với người Xuân La nói riêng và người dân Việt Nam nói chung thì Tò he vẫn là Tò he đơn giản như chính những sản phẩm của nghề được làm từ những đôi tay khéo léo. Một loại sản phẩm khác không thuộc loại chim cò mà là các mâm bồng như: Nải chuối, đĩa xôi, chân giò, quả cau, quả hông, quả oản….để phục vụ cho các bà các cô đi lễ chùa ngày rằm mùng một. Sản phẩm này tương đối giống đồ thực, chúng có màu sắc đẹp đem pha thêm chút đường phèn là có thể ăn được 22 nên cả trẻ con và người lớn đều thích nên thường gọi là bánh Vệt, bánh Vòng hay còn gọi là “ Con bánh”. Nghề nặn Tò he có nguồn gốc lâu đời nhưng do tư liệu chép để trong đình chùa cùng các sắc phong gia phả đã bị giặc Pháp đốt cháy nên hiện nay chưa tìm ra được ông tổ nghề.
Khi tiếp xúc với những nghệ nhân cao niên trong làng và cán bộ địa phương Xuân La là những con cháu bao đời của các dòng họ lớn ở đây. Chúng tôi đã được nghe những truyền thuyết khác nhau phỏng đoán về cụ tổ nghề nặn Tò he. * Truyền thuyết 1: Tương truyền có một người vì tinh ý lại khéo tay đã học lỏm được nghề nặn Tò he này từ một người Trung Quốc có tên là Tắc Từ. Người này đã mang nghề về làng đã chỉ dạy cho con cháu trong làng để kiếm kế sinh nhai.
Như vậy với ý kiến về truyền thuyết này thì không những đã chỉ ra được cụ tổ nghề là ai mà còn chỉ ra được nguồn gốc của nghề là từ Trung Quốc sang. Mặc dù vậy đây chỉ là một ý kiến dựa trên truyền thuyết kể lại chưa có gì chứng minh một cách chính xác và khoa học. Do vậy nó là ý kiến mang tính chất tham khảo. * Truyền thuyết 2: Người đầu tiên làm những con Tò he là cụ Nguyễn Văn Đại.
Cụ cũng là người thông minh, tinh ý và khéo tay. Cụ biết nặn những con vật rất đẹp từ chất liệu bằng đất, bột gạo và vì cụ thương bà con dân làng mình nghèo khó quanh năm cấy hái mò cua bắt ốc mà không đủ ăn nên cụ đã truyền nghề cho cả làng. Duy chỉ không truyền cho con gái vì sợ mất nghề. Đứng từ góc độ địa phương và lịch sừ thì hiện nay cụ Nguyễn Văn Đại được coi là cụ tổ nghề nặn Tò he.
Tuy nhiên ý kiến này cũng chưa thuyết phục vì chưa có bằng chứng để chứng minh chính xác nên vẫn vấp phải một số ý 23 kiến phản bác của các dòng họ khác. Hiện nay con cháu cùng chính quyền địa phương đang tích cực tìm gia phả để chứng minh. * Truyền thuyết 3: Những giả thuyết suy đoán ông tổ nghề là người trong dòng họ Đặng nhưng chưa rõ là ai. Vì: Thủy tổ dòng họ Đặng ở Xuân La được coi là người lập ấp khai canh.
Phần mộ của cụ được an táng ở đất “vai rùa” của làng (Đây được coi là cơi chỉ dành cho những người uy quyền, có khả năng đóng góp cho việc làng nước thì khi chết mới được chôn ở đây). Đồng thời đó là người có chức tước trong làng lại có học hành khả năng cầm kỳ thi họa. Do đó có thể tiếp thu nghề một cách nhanh chóng rồi mang về làng dạy cho người khác với mục đích ban đầu chưa phải là vì kinh tế. Cũng theo những giới thiệu trên cùng với những gì đang tồn tại trong đời sống cộng đồng ở làng hôm nay thì hậu duệ của cụ tổ nghề đã tới đời thứ 8 thứ 9.
Như vậy chứng tỏ Tò he đã có từ rất sớm hơn nữa trong làng có rất nhiều dòng họ: Đặng, Nguyễn, Vũ, Chu, Lê….mà họ nào cũng biết nặn Tò he. Vì thế chức danh ông tổ nghề được phong cho dòng họ nào cũng xứng đáng cả. Trải qua những năm tháng của chiến tranh, khi giặc Pháp triệt phá làng quê để trả thù những người cách mạng trong làng, thì một số người trong làng đã đem theo con cái dời làng đi tị nạn ở các nơi khác. Điều này cũng là một trong những căn nguyên để Tò he có mặt ở nhiều nơi như: Hải Phòng, Thái Bình, Thái Nguyên…Nhưng ở những nơi này Tò he không thực sự phát triển để trở thành làng nghề như ở Xuân la hiện nay.
Đến nay việc xác định nguồn gốc của nghề và ông tổ nghề nặn Tò he ở Xuân La quả thực là một điều hết sức khó khăn khi mà hầu hết những ý kiến đưa ra đều không có bằng chứng thuyết phục. Những băn khoăn xoay quanh việc nghề nặn Tò he có nguồn gốc từ đâu? Là sản phẩm từ đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của cha ông chúng ta hay nó được du nhập từ Trung Quốc sang? 24 (vì Trung Quốc cũng có sản phẩm Tò he giống với ta). Đây là những câu hỏi vẫn chưa có lời giải đáp chính xác và khoa học. Có những ý kiến trái ngược xoay quanh vấn đề này nhưng có thể quy về 2 hướng sau: + Một số người cho rằng: Đất nước ta trải qua một thời gian dài suốt 1000 năm bắc thuộc.
Mọi thứ đều có thể xảy ra rất có thể chúng ta đã tiếp thu và tiếp biến nền văn hóa Trung Hoa bản địa thành nền văn hóa với bản sắc riêng có của chúng ta.