Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chương 2. Xây dựng và sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Sinh học 6 Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Khoa học về đo lường đánh giá trong giáo dục bắt đầu cách đây hơn một thế kỷ được bắt đầu ở châu Âu từ đầu thế kỷ 20, cho đến nay đã phát triển mạnh và có nhiều thành công trong lĩnh vực đo lường, đánh giá trong giáo dục. Đặc biệt là ở Mỹ, lĩnh vực khoa học đo lường phát triển mạnh vào thời kỳ từ trước và sau thế chiến thứ hai với những dấu mốc quan trọng như trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923. Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập National Council on Measurement in Education (NCME) vào thập niên 1950 và ra đời Educational Testing Services (ETS) năm 1947, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ.
Từ đó đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình, đóng góp đối với khoa học này xuất hiện thường xuyên làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện nay ở Mỹ ước tính mỗi năm số lượt trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá cỡ 1/4 tỷ và trắc nghiệm do giáo viên soạn lên đến con số 5 tỷ. Tương ứng với ngành công nghiệp trắc nghiệm đồ sộ và sự phát triển của công nghệ thông tin, lý thuyết về đo lường trong tâm lý giáo dục cũng phát triển nhanh. Trên cơ sở IRT công nghệ trắc nghiệm thích ứng nhờ máy tính (Computer Adaptive Test – CAT) ra đời.
Ngoài ra, trên cơ sở những thành tựu của IRT, công nghệ E-RATE chấm tự động các bài tự luận tiếng Anh nhờ máy tính của ETS đã được triển khai nhờ mạng Internet trong nhiều năm qua. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đề thi cho các kỳ thi tuyển đại học được Mỹ, Nhật, Thái Lan. sử dụng toàn bộ bằng phương pháp TNKQ, Trung Quốc cũng đã sử dụng phương pháp TNKQ vào các kỳ thi tuyển sinh từ nhiều năm nay. Ở Việt Nam Khoa học về đo lường và đánh giá trong giáo dục ở nước ta trong tình trạng lạc hậu và phát triển chậm hơn một số nước đang phát triển khác.
Trước năm 1975, ở Miền Nam nước ta có một vài người được đào tạo về khoa học này từ các nước phương Tây. Vào năm 1974, kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ. Vào những năm sau 1975, ở miền Bắc có một số cán bộ nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lý. Đến năm 1993, Bộ GD & ĐT đã mời một số chuyên gia nước ngoài phổ biến về khoa học này, đồng thời cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập.
Từ đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi. Kỳ thi tuyển đại học thí điểm được tổ chức tại trường đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp TNKQ. Kỳ thi này có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề TNKQ và TL được sử dụng để thí sinh tự chọn. Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề TNKQ, bài thi được chấm bằng máy Opscan-7, trong khoảng 60 trường hợp vi phạm kỷ luật thi do quay cóp thì chỉ có 4 thí sinh từ nhóm làm đề TNKQ.
Từ năm 1997 các hoạt động đổi mới phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục lắng xuống. Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức kỳ thi tuyển đại học theo hình “3 chung”. Năm 2002, Bộ GD & ĐT đã quan tâm tới việc thành lập “Phòng kiểm định chất lượng chất lượng đào tạo” nằm trong Vụ Đại học. Ngày 18/7/2003, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập theo Nghị định số 5/2003/NĐ-CP.
Quyết định thành lập cục khảo thí và kiểm định chất lượng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giáo dục đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam. Thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, từ khi được thành lập các hoạt động của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục đã đáp ứng được phần nào nhu cầu đổi mới của công tác kiểm định chất lượng giáo dục của nước ta hiện nay.[9] Từ năm 2003 tất cả các GV khối THCS tại Hà Nội đều được tham gia vào khóa học “Nâng cao khả năng biên soạn và sử dụng câu hỏi TNKQ”. Các Sở Giáo dục và Đào tạo đều đưa vào Quy chế chuyên môn các qui định về sử dụng câu hỏi TNKQ trong KTĐG. Có rất nhiều luận văn liên quan đến đề tài như: “Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan CMQ để nâng cao chất lượng dạy học môn di truyền ở trường Cao đẳng Sư phạm” (Vũ Đình Luận, 2005), “Vấn đề xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng trong đo lường kết quả học tập môn Sinh 10” (Phạm Thị Phương, 2008), “Nghiên cứu, xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 12” (Tạ Thị Hiền, 2009), …v….
Các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ, song chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lí luận, qui trình xây dựng và sử dụng ngân hàng câu hỏi TNKQ dùng trong đánh giá kết quả học tập môn Sinh học 6. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Cơ sở lí luận của kiểm tra đánh giá 1. Những khái niệm về kiểm tra, đánh giá Đo lường là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng về các đại lượng đặc trưng của đào tạo năng lực trong quá trình giáo dục.
[3] Đánh giá (Assessment) là căn cứ vào các thông tin định tính, định lượng để đưa ra những kết luận về năng lực phẩm chất của sản phẩm giáo dục 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sử dụng những thông tin đó đưa ra quyết định về người học cũng như điều chỉnh cách dạy-học trong tương lai. Đánh giá có thể thực hiện đầu quá trình giảng dạy để giúp tìm hiểu và chuẩn đoán về đối tượng giảng dạy, có thể triển khai trong tiến trình giảng dạy để tạo những thông tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và học, cũng có thể thực hiện khi kết thúc khóa hoặc nhằm mục đích tổng kết. [3] Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. Trần Bá Hoành cũng cho rằng “Kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin để làm cơ sở cho đánh giá”.
Theo quan điểm của Trần Thị Tuyết Oanh “Trong quá trình dạy học, kiểm tra là sử dụng các công cụ nhằm tập hợp các dữ liệu cho phép làm rõ các đặc trưng về số lượng và chất lượng kết quả dạy học. Kiểm tra đánh giá là hai công việc có thứ tự và đan xen. Kiểm tra là phương tiện để đánh giá, đánh giá được tiến hành bằng các hình thức kiểm tra và thu thập thông tin khác”. Các mức độ của lĩnh vực nhận thức Bloom cũng xây dựng nên các cấp độ của các mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau: Biết (Knowledge): là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây.
Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết. Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức. Hiểu (Comprehension): là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu. Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật. Vận dụng (Application): là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới. Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết. Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây.
Phân tích (Analysis): là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó. Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm. Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu. Tổng hợp (Synthesis): là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới.
Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới. Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định. Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí.