đặt vấn đề làm thế nào để khắc khẳng định hai quỹ đạo phát triển còn chất lượng thể chế và các yếu tố phục vấn đề “Hiệu ứng đường ray”. đề cập trên là có thể.Thành tựu quan văn hóa “níu kéo” quốc gia đó trong Nếu chúng ta không sử dụng phân trọng trong nghiên cứu giả thuyết về quỹ đạo được lựa chọn. Chính vì rào tích định lượng thì tất cả các giả Path Dependence thuộc về hai tên cản này mà nhiêu quốc gia không thuyết được đặt ra trước đó vê “Hiệu tuổi Paul David và Douglas Norfh. thể thoát khỏi quỹ đạo đang đi dù họ ứng đường ray” không thể được kiếm Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực nhận thức được sai lâm của mình.
Maddison - một trong các nhà này đã mang về cho North giải Nô Ủ đây, chúng ta xem xét giả thống kê kiệt xuất nhất là người đầu ben kinh tế. Việc phát hiện hiệu ứng thuyết mở rộng “North-Wallis- Ván k Xai the American Express® - Lái xe Mercedes về nhà In in, ers | fhận rnáy tính iMac, điện thoại iPhone 6s, sạc dự phòng. ly 15/03/2016 den het 15/05/2016 — oe. ie i N---: 1 Chỉ tiết lên hệ Vietcombank chỉ nhánh gắn nhat/ truy cap website www.comvn hodc lién hé Trung tam DVKH: 1900 54 54 13 TẠP CHÍ NGÂN HÀNG | SỐ 7 | THANG 4/2016 @ ME, i=) NHONG VAN DE KINH TE vi MO Weingast” dudc phan anh trong nước có hệ thống thể chế yếu và tác một số bộ chỉ tiêu quan trọng để cuốn sách “Violence anh Social động tích cực nếu các thể chế của đánh giá chất lượng môi trường thể Order: A Conceptual Framework nó mạnh.
chế của các quốc gia. Chất lượng for Interpreting Recorded Human Tuy nhiên, theo chúng tôi, quan của môi trường thể chế có thể được History” (North va các cộng sự, điểm của Acemoglu và các cộng sự đánh giá thông qua 6 chỉ số quản 2011). Cac tac gia phan tich tai sao (2009) chuẩn mực hơn cả. Họ nhấn trị toàn câu (Global Governance các nước đi theo các quý dao phat mạnh rằng không tồn tại mối quan hệ Indicators) của Ngân hàng Thế giới.
triển khác nhau và làm thế nào để nhân quả giữa tăng trưởng thu nhập Chất lượng thể chế cũng được đánh thực hiện việc chuyển đổi từ quỹ đạo và dân chủ hóa do một nhân tố quan giá trong một báo cáo uy tín khác - này sang quý đạo khác. Theo tính trọng bị bỏ qua. Đó là hệ thống các Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn toán của họ, quá trình chuyển đổi quy tắc chính thức và phi chính thức. Vậy là tồn tại hai thế giới bàn luận nhiều, trong khi thể chế phi Phân tích số liệu các năm khác nhau khác nhau, hai trật tự xã hội khác nhau chính thức được nghiên cứu còn sơ về Việt Nam trong hai báo cáo này, mà được phân biệt bằng tập hợp các sài.Các yếu tố văn hóa xã hội là một có thể nhận thấy chất lượng thể chế quy tắc.
Trong một trường hợp, giới loại thể chế phi chính thức. của nước ta vừa thấp vừa chậm được thượng lưu làm luật cho người khác, Mãi cho đến giữa thế kỷ XX, các cải thiện. Theo số liệu của bảng 1, còn trong trường hợp khác, họ xây nghiên cứu về văn hóa chủ yếu dừng trong giai đoạn 1996-2014, mức độ dựng luật cho bản thân họ, rồi gan lại ở các khái niệm. Ngày nay, xuất năm 2013 thấp hơn so năm 1996 chúng cho người khác.
Trong trường hiện khả năng không chỉ nghiên cứu đối với tất cả các chỉ số quản trị toàn hợp thứ nhất, các tổ chức thương định lượng các yếu tố văn hóa xã hội, cầu. Duy chỉ có chỉ số ổn định chính mại, phi thương mại và chính trị được mà còn xu hướng thay đổi của chúng. trị mang giá trị dương. Các chỉ số của thành lập xung quanh các nhân vật Hofstede (2001) và Inglehart (1977) năm 2014 có sự cải thiện.
Riêng chỉ và triệt tiêu cùng với họ, còn trong đi đầu trong lĩnh vực này. Phương pháp luận của họ cho phép so sánh số ốn định chính trị của Việt Nam cao trường hợp thứ hai, các tổ chức sống so Với các chỉ số khác. (Bảng 1) lâu hơn người sáng lập chúng. Trong dãy động thái của các yếu tố văn hóa Để đánh giá khách quan bộ chỉ số trường hợp thứ nhất, các công cụ bạo xã hội với dãy động thái của các chỉ số kinh tế ví mô.
Phân tích các dãy quản trị toàn câu, cân tiến hành sự lực phân phối giữa các nhóm thượng động thái của Hàn Quốc, Singapore, so sánh giữa Việt Nam với các nước lưu, còn trong trường hợp thứ hai, ton Hồng Kông và Đài Loan cho phép khác, đặc biệt với các nước có các tại sự kiếm soát tập thể. nhận thấy, tất cả bốn nước này mà vị trí kinh tế vĩ mô tương đồng. Kết Vậy thì cơ chế chuyển đổi từ một đã chuyển sang nhóm A, biểu diễn quả đánh giá năm 2013 của Ngân trật tự xã hội này sang trật tự khác một dây động thái tương đồng về sự hàng Thế giới cho thấy, trong 215 như thế nào? phát triển các đặc tính văn hóa xã nước được khảo sát, Việt Nam đứng Ton tại nhiều giá thuyết về van dé này. Chúng được phản ánh trong các 118/215 về chỉ số hiệu quả nhà Theo giả thuyết phát triển hay giả chỉ số Inglehart (chuyển từ các giá trị nước, 151/215 về chất lượng các thể thuyết hiện đại hóa của Seymour truyền thống sang các giá trị lý tính, chế điều tiết, 129/215 về chất lượng Lipset - người đứng đầu trường phái tăng trưởng các giá trị tự thế hiện) các thế chế pháp quyền, 133/215 về thể chế trong xã hội học, tăng trưởng cũng như các hệ số Hofstede hay kiểm soát tham nhũng.
So sánh với kinh tế sẽ dẫn đến các hệ quả xã hội, hệ số hành vi (tăng trưởng tâm quan 12 nước trong khu vực Đông Á và phổ cập giáo dục, xuất hiện tầng lớp trọng của tính cá nhân, giảm khoảng Đông Nam Á bao gồm Campuchia, trung lưu và hình thành dân chủ. Tuy cách quyền lực, xuất hiện định hướng Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, nhiên, quan điểm đối lập cho rằng dai hạn). Rõ ràng ở đây, tồn tại một Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Philippines, dân chủ có trước, nó thúc đẩy tăng mối quan hệ bền vững giữa sự chuyển Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Việt trướng kinh tế. dịch giá trị và sự chuyển dịch kinh tế.
Nam; về hiệu quả nhà nước, Việt Nam Polterovich, Popov (2007), đứng thứ 10, trên Lào và Campuchia; Persson, Tabellini (2007) thi chtfng 3. Phất lượng môi trường thể về chất lượng các thể chế điều tiết, minh rằng không tồn tại mối quan hệ chế thấp - rào cản đối với năng chúng ta hơn Lào; về chất lượng các nhân quả nhất quán giữa dân chủ hóa lực cạnh tranh của Việt Nam thể chế pháp quyển và kiếm soát và tăng trưởng kinh tế. Dân chủ có Ngày nay, các nghiên cứu uy tín tham nhũng - Việt Nam đều xếp thứ thể dẫn đến hậu quả tiêu cực nếu một về thể chế trên thế giới cho ra đời 9/12. ©) er cHiNGAN HANG | $67 | THANG 4/2016 NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ vi Mô ”) BE Bang 1: Cac chi s6 quan tri toàn cầu của Việt Nam trật tự, kỷ cương mới.
Việc tổ chức bộ 1996 2000 2005 2012 2013 2014 máy hành chính cũng được cải cách Chỉ số quyền công dân và -1,08 -1,25 || -1,42 -1,39 -1,34 -1,34 thông qua điêu chỉnh chức năng, trách nhiệm giải trình nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, Chỉ số ồn định chính tri 0,41 0,31 | 0,46 0,24 0,22 0,00 ngành để khắc phục tính chồng chéo Chỉ số hiệu quả nhà nước -0,29 -0,44 -0,20 -0,29 -0,30 -0,06 trong hoạt động của các cơ quan Chỉ só chất lượng các thể chế 0,53 0,72 -0,57 -0,68 -0,65 -0,59 nhà nước; thực hiện phân cấp quản điều tiết | Chỉ số chất lượng các thể chế -040 -034 0,24 0,50 0,49 031 lý giữa trung ương và địa phương; phap quyén sắp xếp cơ cấu tổ chức các chính Chỉ sô kiêm: soát tham nhũng -0,43 -0,60 -0,76 -0,56 -0,53 -0,5 quyền trung ương và địa phương theo Vguôn- htlp://mfo.vworllbanR org/governance/wei/index.aspx#home hướng gọn nhẹ hơn dựa trên nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực; đổi mới Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn Báo cáo 2015-2016) và xếp hạng công tác quản lý cán bộ, công chức cầu là nghiên cứu trên quy mô toàn tương ứng còn thấp mặc dù năng lực thông qua hệ thống các tiêu chuẩn, thế giới đính kèm với bảng xếp hạng cạnh tranh của nước ta cải thiện từ vị chức danh, vị trí việc làm. Tuy nhiên, các quốc gia về năng lực cạnh tranh trí 75 (Báo cáo 2009-2010) lên đến cải cách hành chính với tiến độ còn kinh tế được công bố từ năm 2004. chậm so với cải cách kinh tế. Nhiều Các tiêu chí đánh giá của WEF được Nước ta xếp hạng trong nhóm các thủ tục chưa rõ ràng và nhất quán.
chia thành 3 nhóm chính bao gồm: quốc gia có thứ bậc trên 50. Nếu so Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, cơ nhóm † - các yêu cầu căn bản (kinh sánh với các nước trong khu vực thì chế “xin - cho” vẫn tồn tại, chất lượng tế ví mô, giáo dục cơ bản - y tế, kết Việt Nam vẫn kém hơn Trung Quốc, đội ngũ công chức còn hạn chế về cấu hạ tầng, thế chế); nhóm 2 - các Malaysia, Thai Lan, Indonesia, Brunei, tính chuyên môn, tính chuyên nghiệp. yếu tố nâng cao (giáo dục và đào Philippines, chi hdn Lao, Campuchia Chất lượng văn bản pháp quy, nhìn tạo bậc cao, mức độ hiệu quả trên va Myanmar. chung còn thấp hơn so với các nước thị trường lao động, hiệu quả trên thị Thực trạng môi trường thể chế của trong khu vực.
Thứ nhất, số lượng văn trường hàng hóa, sự phát triển của hệ Việt Nam có thể được đánh giá thông bản pháp quy quá nhiều, chồng chéo, thống tài chính, trình độ công nghệ, qua phân tích một số vấn đề. khả năng thực thi thiếu hiệu quả do quy mô thị trường) và các yếu tố về Trong các năm qua, hệ thống thủ tục thủ tục hành chính rườm rà. Vẫn còn tinh vi - đột phá (sự tỉnh vi của hệ hành chính của nước ta được cải cách văn bản quy phạm pháp luật còn có thống doanh nghiệp, khả năng đột theo hướng đơn giản và công khai, đá dấu hiệu trái luật. 7hứ hai, tính minh phá).
tạo thuận lợi hơn cho người dân và bạch và nhất quán trong các quy định Trong 3 nhóm tiêu chí này, Việt doanh nghiệp trong giao dịch hành pháp luật. Một số luật khi xây dựng Nam luôn được chấm điểm cao nhất chính.