mở đầu. Thời kì đầu của nhà nước phong kiến Nhật Bản đã trải qua “thời đại quý 3 tộc” Nara và Heian từ năm 710 đến năm 1185 với những cuộc nội chiến giữa các 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 2 Trường Đại học khoa học xã hội nhân văn (2003), Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản (Những vấn đề lịch sử và hiện đại), Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 3 Vĩnh Sính (2015), Nhật Bản cận đại, Nxb. Lao động, tr. 6 dòng họ quý tộc khiến cho quyền lực của Thiên hoàng bị thu hẹp.
Đến năm 1192, Minamôtô Yôritômô chính thức khai nguyên chế độ Tướng quân (Shogun). Triều đình phong cho Thống lĩnh Tướng quân nắm giữ quyền lực về quân sự và phục vụ cho Thiên hoàng còn tổng hành dinh của Tướng quân là Mạc phủ (nghĩa là Chính phủ). Như vậy, từ năm 1185 đến năm 1868, Nhật Bản tồn tại hai chính quyền cùng thống trị đất nước: Chính quyền của triều đình Thiên hoàng ở Kyoto và chính quyền của giai cấp võ sĩ đạo ở Kamakura được coi là chính quyền của Mạc Phủ4. Hai chính quyền trong thời kỳ Mạc phủ của Nhật Bản tương tự như chính quyền của Vua Lê và Chúa Trịnh ở Việt Nam (từ năm 1593 đến năm 1786).
Chính quyền Mạc phủ của Nhật Bản trong từng giai đoạn đã có những sự bất ổn về mặt chính trị. Chính quyền Mạc phủ có chỗ dựa là tầng lớp võ sĩ phong kiến với những quy định khắt khe trong pháp luật của chế độ phong kiến quân sự. Cuộc tranh giành quyền lực giữa triều đình hoàng gia và chính quyền của Tướng quân đã gây nên những cuộc nội chiến kéo dài, nhân dân càng cực khổ và sự phát triển của đất nước bị kìm hãm. Đến năm 1603, thời kì phát triển nhất của nhà nước phong kiến Nhật Bản được thiết lập bởi chính quyền Mạc phủ Tokugawa.
Mạc phủ Tokugawa tiếp tục thâu tóm toàn bộ quyền lực về mình, kìm hãm quyền lực của các lãnh chúa phong kiến, triều đình và Thiên hoàng tồn tại mà không có thực quyền. Mạc phủ Tokugawa còn tiến hành xây dựng quân đội hùng mạnh gồm các võ sĩ, cho họ hưởng nhiều ưu đãi, bổng lộc. Nhờ thi hành nhiều chính sách phòng thủ thận trọng, Mạc phủ Tokugawa đã củng cố vững chắc sự thống trị, duy trì hòa bình và ổn định trong 250 năm thời đại của mình. Quá trình suy vong của nhà nước phong kiến Nhật Bản Chính quyền Mạc phủ Tokugawa đã duy trì được một nền hòa bình và sự thống nhất ổn định lâu dài.
Nhưng những chính sách củng cố sự thống trị đã làm cho kết cấu xã hội - chính trị dưới thời Tokugawa không còn đủ sự linh hoạt để vận hành, khống chế chặt chẽ các tầng lớp xã hội nhất là quần chúng lao động làm cho mâu thuẫn trở nên gay gắt. Phong trào đấu tranh dâng cao sau khi Mạc phủ phải ký các hiệp định thương mại bất bình đẳng với Mỹ vào năm 1858 và sau đó là với Hà Lan, Nga, Anh, Pháp5. Những hiệp ước đã chấm dứt thời kì biệt lập và buộc Nhật phải mở cửa giao thương với bên ngoài. Những nhượng bộ này đã gây nên làn sóng bất mãn trong nhân dân vốn đã mâu thuẫn với chế độ Tướng quân bởi chính sách nội trị.
Đối với nhân dân, Tướng quân vừa chiếm đoạt quyền hành của Thiên hoàng 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Nxb. Công an nhân dân, tr 403. 5 Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng (1998), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb. Giáo dục, tr.
7 vừa phản bội đất nước. Trước sức ép của phong trào quần chúng muốn xóa bỏ chế độ phong kiến để xây dựng một nước Nhật Bản thống nhất với thể chế dân chủ, năm 1867, chính quyền Tướng quân sụp đổ đánh dấu sự tan rã chế độ phong kiến trong lịch sử nhà nước Nhật Bản. Sự xuất hiện của nhà nước phong kiến Nhật Bản dựa trên nền tảng quan hệ sản xuất phong kiến và hoạt động cải cách xã hội. Tình hình chính trị của nhà nước phong kiến Nhật Bản không có tính ổn định vì những cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các dòng họ và sự chi phối quyền điều hành đất nước của Tướng quân với Thiên hoàng.
Điều đó thể hiện tính chuyên chế rất hạn chế của nền quân chủ trong nhà nước phong kiến Nhật Bản. Phải đến thời Minh Trị, mô hình Thiên hoàng trực tiếp cai trị mới thay thế cho chế độ phong kiến của chính quyền Mạc phủ và trở thành tiền đề dẫn đến sự hình thành của nhà nước tư sản Nhật Bản. Nhà nước tư sản Nhật Bản 1. Minh Trị duy tân và sự thiết lập nhà nước tư sản Nhật Bản Sau khi chính quyền Mạc Phủ sụp đổ, chính quyền Minh Trị được thành lập đã tiến hành cuộc duy tân mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các bình diện từ chính trị đến kinh tế, xã hội và phù hợp với đòi hỏi cho sự phát triển của đất nước khi đó.
Minh Trị duy tân là cuộc cải cách mang tính chất dân chủ đầu tiên mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giúp Nhật Bản từ một nhà nước phong kiến trở thành một nhà nước tư sản với nền quân chủ lập hiến tiến bộ hơn về mặt pháp lý. Những tiền đề dẫn đến cải cách và nội dung của Minh Trị duy tân Đầu thế kỷ XIX, những dấu hiệu của nền kinh tế tự nhiên ngày càng lộ rõ6. Nền kinh tế tự nhiên dựa trên quan hệ phong kiến với tình trạng cát cứ không còn phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất nữa. Các thương nhân châu Âu bắt đầu thâm nhập thị trường Nhật Bản, đặt ra cho Nhật Bản những triển vọng và thách thức mới.
Tuy nhiên, việc chính quyền ký hiệp ước bất bình đẳng với phương Tây khiến hàng hóa nước ngoài tràn vào làm cho các ngành nghề thủ công truyền thống không đủ sức cạnh tranh. Quan hệ hàng hóa, tiền tệ phát triển khiến cho quan hệ phong kiến tan rã, thương nghiệp bắt đầu có những bước phát triển mạnh mẽ. Sự thay đổi về mặt kinh tế tạo ra chuyển biến trong việc phân hóa giai cấp trong xã hội. Tầng lớp quý tộc phong kiến quản lý các vùng lãnh địa phân hóa thành lực lượng bảo thủ với nền kinh tế không phát triển và lực lượng có xu hướng canh tân, chống lại sự hạn chế của chế độ quân sự phong kiến.
Tầng lớp võ sĩ phân hóa 6 Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, tlđd số 5, tr. 8 thành người kinh doanh, chống lại Tướng quân, tiến hành cải cách xã hội. Thương nhân bắt đầu có vị trí quan trọng, tham gia bóc lột người nông dân và trở thành chủ nợ của lãnh chúa, võ sĩ và của cả Tướng quân. Nông dân chiếm 80% - 90% cư dân Nhật Bản7.
Họ vô cùng bất mãn với chế độ Tướng quân nhưng những phong trào đấu tranh của họ chưa đủ mạnh để lật đổ giai cấp thống trị. Sự bất ổn về mặt kinh tế - xã hội khiến cho chính quyền Tướng quân lâm vào tình trạng khó khăn. Chính quyền Mạc phủ thể hiện sự độc tài quân sự kết hợp với chế độ đẳng cấp khắt khe. Khi các phong trào đòi lật đổ chế độ Tướng quân ngày càng mạnh mẽ thì chính quyền Mạc phủ càng thỏa hiệp với phương Tây.
Một số công quốc chống lại lực lượng bảo thủ, ủng hộ việc trao trả quyền lực cho Thiên hoàng. Song song với đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có yếu tố tư bản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất phong kiến, mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị, mâu thuẫn giữa dân tộc Nhật Bản và bọn thực dân xâm lược. Về tư tưởng, người Nhật nhận ra rằng sự tiếp thu văn minh phương Tây đã trở thành phương tiện hữu hiệu duy nhất để bảo vệ nền độc lập đất nước. Trước mắt, họ phải học tập nền khoa học kỹ thuật của phương Tây để ổn định đời sống nhân dân và phát triển nền kinh tế.
Sau đó họ sẽ tiến tới việc yêu cầu phương Tây sửa đổi lại các điều ước bất bình đẳng đã áp dụng đối với mình. Trong 250 năm dưới thời Tokugawa, theo quan niệm “sĩ, công, nông, thương”, người buôn bán bị liệt vào hạng thấp nhất trong xã hội8. Tư tưởng này khiến nền kinh tế bị kìm hãm và không còn phù hợp khi công thương nghiệp của Nhật Bản bắt đầu phát triển. Khi những tiền đề của bước quá độ đến chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện mà chính quyền Mạc phủ không còn đủ sức lãnh đạo con đường phát triển của đất nước thì Nhật Bản cần có một chính quyền mới thực hiện cuộc cải cách mạnh mẽ.
Nội dung Minh Trị duy tân Cuối thời kỳ phong kiến Nhật Bản, cùng với sự tác động của những tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, tầng lớp quý tộc liên hiệp với tầng lớp đại thương nhân tiến hành cuộc duy tân đất nước. Trước hết họ lật đổ chính quyền Mạc phủ Tokugawa để thiết lập một nhà nước liên hiệp vào năm 1868, sau đó đưa Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi để lãnh đạo công cuộc duy tân đất nước. Hàng loạt cải cách từ bộ máy nhà nước, pháp luật, quân đội, kinh tế, tài chính đến giáo dục theo hình mẫu phương Tây đã được thi hành9. Hai mục tiêu được đặt ra là bảo vệ nền độc lập 7 Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, tlđd số 5, tr.
8 Vĩnh Sính, tlđd số 3, tr. 9 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd số 4, tr. 9 quốc gia và phát triển Nhật Bản từng bước tiến lên bình đẳng với các nước Tây phương. Cải cách về chính trị và xã hội Chính quyền Minh Trị công bố “Năm điều thề” với cải cách dân chủ trong khuôn khổ quyền lực của vương triều gồm các điểm chủ yếu như: tổ chức Nghị viện; mọi người hành động vì quyền lợi dân tộc; mọi việc thực hiện trên cơ sở pháp luật và học tập nước ngoài xây dựng đất nước.
Việc cải cách bộ máy chính quyền ở trung ương được thực hiện qua đạo luật “Chính thể thư” quy định tất cả quyền lực nhà nước tập trung vào Thái chính quan gồm ba viện: Chính viện là cơ quan chính trị tối cao; Tả viện là cơ quan lập pháp và Hữu viện lo các việc hành chính10. Ba viện này được lập ra trên cơ sở nguyên tắc phân quyền nhưng thực tế sự phân biệt giữa lập pháp và hành pháp không rõ ràng.