Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC HỌC GIẢ TRÊN THẾ GIỚI Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thuật ngữ “cạnh tranh” ngày càng được sử dụng phổ biến trong các nội dung nghiên cứu khoa học, đề tài, dự án, phương tiện thông tin đại chúng cũng như các diễn đàn kinh tế trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh là một chủ đề được bàn luận rất nhiều và có nhiều cách hiểu khác nhau theo thời gian. Các nhà kinh tế ở thế kỷ XVII và XVIII đã tiến hành nghiên cứu cạnh tranh trên nền tảng của thế giới quan tư sản, điển hình là Adam Smith và David Ricardo.
Adam Smit với tác phẩm “Nhà nước, tính chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc” năm 1976 cho rằng năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào những lợi thế của Quốc gia đó về sản xuất một hoặc số mặt hàng nào đó với sản phẩm khác [75]. David Ricacdo tác giả của “Các thuyết lý cơ bản của chính sách kinh tế về thuế khóa” năm 1817 cũng đã khẳng định năng lực cạnh tranh của một lĩnh vực không phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối mà còn khai thác từ lợi thế so sánh rằng các lựa chọn sản xuất các mặt hàng mất ít nguồn lực hơn và đổi lấy các mặt hàng cần nhiều nguồn lực hơn để sản xuất thông qua thương mại quốc tế. Theo quan điểm của trường phải tân cổ điển, dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của một sản phẩm nhất định thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và việc tăng năng suất lao động. Năng lực cạnh tranh của một ngành hay một doanh nghiệp là năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trong và ngoài nước.
Theo cách hiểu này thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được phản ánh ở những khía cạnh cơ bản như: (1) Khả năng cạnh tranh của sản phẩm; (2) Khả năng duy trì và mở rộng 8 thị phần; (3) Khả năng duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh; (4) Khả năng tăng năng suất và hiệu quả làm việc; (5) Khả năng thích ứng và đối mới; (6) Khả năng thu hút nguồn lực; (7) Khả năng liên kết và hợp tác. Porter - người được coi là cha đẻ của lý thuyết cạnh tranh hiện đại, cho rằng: “Cạnh tranh không phải cung cấp cái tốt nhất mà là tạo ra sự khác biệt. Vì cái tốt nhất không phải người tiêu dùng nào cũng có thể mua được, do tốt nhất thường là nhiều tiền nhất”. Cuối thế kỷ XX, nhiều nhà kinh tế học phương tây đã đưa ra nhiều lý thuyết cơ bản, lý thuyết được áp dụng nhiều nhất và Lý thuyết của của Michael E.Porter gồm ba tác phẩm nổi tiếng như “Lợi thế cạnh tranh”, “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” và “chiến lược cạnh tranh”.
Tác giả đã phân tích cơ sở hình thành và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo tác giả để hiểu rõ năng lực cạnh tranh từ đó luận giải những lợi thế cạnh tranh và lựa chọn những chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Cạnh tranh là vấn đề cơ bản xác định sự sống còn của doanh nghiệp, quyết định sự thành công hay thất bại và cũng xác định được năng lực thực tế trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” của tác giả Michael E Porter năm 2004, tác giả cho rằng “Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh chính là chìa khóa của sự hiệu quả, nó sẽ quyết định những hành động doanh nghiệp cần làm để đem lại sự hiệu quả cho doanh nghiệp.” Ông cũng nói rằng cạnh tranh ngành rất quan trọng, xem xét 5 yếu tố tạo nên sự canh tranh ngành bao gồm sức mua, sức bán, sự gia nhập của đối thủ mới, sự đe dọa của sản phẩm thay thế, và sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại. Trong lý thuyết cạnh tranh của Karl Marx, cạnh tranh được phân tích dựa trên 3 khía cạnh bao gồm cạnh tranh về giá trị thặng dư, cạnh tranh chất lượng và cạnh tranh giữa các ngành. Cả ba khía cạnh đều diễn ra xoay quanh giá trị. Karl Marx đã chỉ ra cơ cấu chuyển hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá cả sản xuất trong điều kiện tự do cạnh 9 tranh.
Theo Karl Marx, cạnh tranh được định nghĩa là “sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế lợi ích, mục tiêu xác định”. Trong tác phẩm “Kinh tế học” của tác giả Paul A.Samuelson và William D. Nordhaus [89], Cho rằng “cạnh tranh là mức độ mà hàng hóa của một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường”; điều này phụ thuộc chủ yếu vào giá cả tương đối của các sản phẩm trong và ngoài nước. Ngoài ra, các chính sách về thương mại giúp phát triển hệ thống thương mại mở sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và sự tiếp nhận các công nghệ.
Bên cạnh những tài liệu nghiên cứu về cạnh tranh nói chung, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và riêng ngành ngân hàng cũng được nhiều tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu trong thời gian qua. Tác giả Paolo Coccorese đã thực hiện nghiên cứu “ Đánh giá các điều kiện cạnh tranh của hệ thống ngân hàng tại Ý: Một số bằng chứng thực nghiệm” [90] nhằm xác định mức độ cạnh tranh, các đặc điểm chính của thị trường ngân hàng và đưa ra một số khuyến nghị đối với hệ thống ngân hàng tại Ý trong giai đoạn 1988 - 1996. Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng Ý giai đoạn 1988 - 1996 kiếm được doanh thu nếu trong điều kiện cạnh tranh độc quyền. Thông qua phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả của ngân hàng.
Nghiên cứu chỉ ra rằng lợi nhuận của ngân hàng tỷ lệ nghịch với tài sản của ngân hàng và tỷ lệ thuận với vốn chủ sở hữu. Nghiên cứu của Michael Dunford, Helen Louri và Manfred Rosenstock về “Sự cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các chính sách của doanh nghiệp” [86]. Ông cho rằng “đối với kinh tế vi mô, doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp đạt được các cải thiện bình quân về chất lượng hàng 10 hóa và dịch vụ cùng với/hoặc giảm chi phí liên quan nhằm cho phép doanh nghiệp tặng lợi nhuận và/hoặc thị phần lớn hơn”. Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của ngành ngân hàng vào năm 2003, “Yếu tố nào thúc đẩy cạnh tranh ngân hàng? Một số bằng chứng quốc tế” [92], Tác giả Stijn Claessens và Luc Laeven đã cho thấy sự gia tăng hiện diện của các ngân hàng nước ngoài và sự giảm thiểu các quy định hạn chế hoạt động trong ngành ngân hàng có thể giúp cho hệ thống ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh.
“Nghiên cứu so sánh hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Châu Âu” [80]. Nghiên cứu được tiến hành vào năm 2003 bởi Barbara Casu và Philip Molyneux nhằm phân tích cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trường Châu Âu thống nhất trong giai đoạn 1993-1997. Kết quả nghiên cứu cho thấy kể từ khi có chương trình thị trường Châu Âu thống nhất, mức hiệu quả hoạt động của ngân hàng có sự cải thiện nhẹ. Ngoài ra, sự khác biệt giữa các thị trường ngân hàng ở các quốc gia ở Châu Âu chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố riêng của từng quốc gia.
Trong bài viết “Khái niệm về năng lực cạnh tranh của lĩnh vực tài chính” của tác giả Mamiko Yokoi-Arai và Naoyuki Yoshino [85]. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố như sau: Sự hiệu quả của hoạt động kinh doanh (ROA, ROE, năng lực quản lý tài chính), Quy mô (Thị phần tiền gửi và cho vay, Quy mô doanh số bán lẻ: số chi nhánh, quy mô tài sản), Công nghệ thông tin (hệ thống quản trị dữ liệu), Quản lý nguồn lực (Quản lý nguồn nhân lực, quản lý doanh nghiệp). Nhằm khám phá mối tương quan giữa khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành ngân hàng và tăng trưởng kinh tế ở Ai Cập, tác giả Sunil S. Poshakwale và Binsheng Qien (2011) đã thực hiện nghiên cứu với chủ đề “Năng lực cạnh tranh và hiệu quả của ngành ngân hàng và tăng trưởng kinh tế ở Ai cập” [93], nghiên cứu cho thấy chương trình cải cách tài chính tại Ai Cập có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến năng lực cạnh tranh của 11 ngành ngân hàng trong giai đoạn từ 1992 - 2007.
Ngoài ra, ngân hàng nhà nước có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với ngân hàng tư nhân; và ngân hàng nước ngoài có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với ngân hàng trong nước. Nghiên cứu của Rosita Suhaimi và cộng sự về “Thực hành quản lý quan hệ khách hàng và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ở Kenya” [91]. Cho thấy mối tương quan thuận giữa quản lý quan hệ khách hàng và năng lực tiếp thị đã gián tiếp tác động đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Kenya. Ngược lại, các yếu tố thuộc về tổ chức như số năm hoạt động, quy mô tổ chức, cơ cấu sở hữu, nhóm khách hàng, uy tín hoạt động, thời gian thực hiện quản trị quan hệ khách hàng và trình độ công nghệ không thể hiện mối tương quan có ý nghĩa thống kê đối với năng lực cạnh tranh của tổ chức.
Một nghiên cứu khác của Rosita Suhaimi và các cộng sự về “Hiệu quả lợi nhuận và năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng ở Malaysia” [91]. Cho thấy hiệu quả lợi nhuận và năng lực cạnh tranh có mối tương quan đạt ý nghĩa thống kê tại các ngân hàng tại Malaysia. Osmis Areda Habte đã thực hiện đề tài về “Điều kiện cạnh tranh trong hệ thống Ngân hàng ở Thụy Điển” [88]. Nghiên cứu tập trung đánh giá về các ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến khả năng cạnh tranh của trong hệ thống Ngân hàng Thụy Điển giai đoạn 2003 - 2010.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao hơn so với các ngân hàng tiết kiệm. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của ngân hàng có sự sụt giảm nhẹ sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu trong giai đoạn 2003-2010.