Chương 1: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Thông tin di động (VMS) trong hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty VMS trong hội nhập kinh tế quốc tế. 5 z CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG VÀ DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Dịch vụ viễn thông 1.
Khái niệm dịch vụ viễn thông Viễn thông là ngành kinh tế kỹ thuật, dịch vụ quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò quan trọng trong đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Viễn thông gồm [20, trang 13 - 14]: mạng viễn thông và dịch vụ viễn thông a. Mạng viễn thông: Là tập hợp các thiết bị viễn thông đƣợc liên kết với nhau bằng các đƣờng truyền dẫn. Mạng viễn thông bao gồm: Mạng viễn thông công cộng, mạng viễn thông dùng riêng, mạng viễn thông chuyên dùng.
Dịch vụ viễn thông: Là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Luật Viễn thông mới đƣợc Quốc hội khóa XII thông qua ngày 23/11/2009 cũng đƣa ra định nghĩa: “Dịch vụ viễn thông” là dịch vụ gửi, truyền, nhận ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Phân loại dịch vụ viễn thông Theo Pháp lệnh Bƣu chính Viễn thông, dịch vụ viễn thông bao gồm: Dịch vụ viễn thông cơ bản; dịch vụ giá trị gia tăng; dịch vụ kết nối Internet; dịch vụ truy nhập Internet; dịch vụ ứng dụng Internet trong bƣu chính, viễn thông. Dịch vụ viễn thông cơ bản: Là dịch vụ truyền đƣa tức thời thông tin dƣới dạng ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin đƣợc gửi và nhận qua mạng.
- Dịch vụ cơ bản bao gồm: 6 z + Dịch vụ viễn thông cố định (nội hạt, đƣờng dài trong nƣớc, quốc tế) gồm: Dịch vụ truyền dẫn, thu, phát tín hiệu truyền hình, dịch vụ điện thoại, dịch vụ truyền số liệu, dịch vụ thuê kênh, dịch vụ telex, dịch vụ điện báo. + Dịch vụ viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc) gồm: Dịch vụ thông tin di động mặt đất, dịch vụ điện thoại trung kế vô tuyến, dịch vụ tin nhắn. + Dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh + Dịch vụ viễn thông di động vệ tinh + Dịch vụ vô tuyến điện hàng hải và các dịch vụ cơ bản khác do Bộ Bƣu chính, viễn thông quy định. Dịch vụ giá trị gia tăng: Là dịch vụ làm tăng thêm giá trị sử dụng thông tin của ngƣời sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình hoặc nội dung thông tin, hoặc cung cấp khả năng lƣu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet.
Dịch vụ kết nối Internet: Là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế. Dịch vụ truy nhập Internet: Là dịch vụ cung cấp cho ngƣời sử dụng khả năng truy nhập Internet. Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông: Là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bƣu chính, viễn thông cho ngƣời sử dụng. Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội phải tuân theo các quy định pháp luật về bƣu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo Luật Viễn thông đang đƣợc trình Quốc hội phân loại Dịch vụ viễn thông bao gồm dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng. Doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm doanh nghiệp viễn thông Cho đến nay, tại các văn bản pháp quy của nƣớc ta chƣa có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp viễn thông, song nếu xét theo khái niệm của doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của 7 z pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” thì có thể hiểu chung doanh nghiệp viễn thông là doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực cung cấp các dịch vụ viễn thông. Phân loại doanh nghiệp viễn thông Theo điều 38, Pháp lệnh Bƣu chính Viễn thông năm 2002 phân loại doanh nghiệp viễn thông bao gồm: - Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng là doanh nghiệp nhà nƣớc hoặc doanh nghiệp mà vốn góp của Nhà nƣớc chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật để thiết lập hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông.
Doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng đƣợc quyền cung cấp trực tiếp và bán lại dịnh vụ viễn thông - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông là doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật để cung cấp các dịch vụ viễn thông. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đƣợc thiết lập các hệ thống thiết bị viễn thông trong phạm vi cơ sở và điểm phục vụ công cộng của mình để trực tiếp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng, dịch vụ truy nhập Internet và bán lại dịch vụ viễn thông; không đƣợc thiết lập các đƣờng truyền dẫn ngoài phạm vi cơ sở và điểm phục vụ công cộng của mình. Theo Luật Viễn thông tại điều 12, 13 đƣa ra phân loại 2 loại hình doanh nghiệp viễn thông, đó là doanh nghiệp khai thác mạng viễn thông và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. - Doanh nghiệp khai thác mạng viễn thông là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc thành lập theo pháp luật Việt Nam để thiết lập mạng viễn thông và cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng.
Doanh nghiệp khai thác mạng viễn thông đƣợc quyền khai thác mạng viễn thông công cộng để bán, cho các doanh nghiệp viễn thông khác thuê lại để cung cấp dịch vụ viễn thông cho ngƣời sử dụng dịch vụ. - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc thành lập theo pháp luật Việt Nam để cung cấp các dịch vụ viễn thông cho công cộng trên cơ sở thuê đƣờng truyền dẫn của các doanh nghiệp khai 8 z thác mạng viễn thông. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đƣợc xây dựng, lắp đặt các hệ thống thiết bị viễn thông và đƣờng truyền dẫn viễn thông trong phạm vi cơ sở và điểm phục vụ công cộng của mình để trực tiếp cung cấp hoặc bán lại dịch vụ viễn thông cho ngƣời sử dụng dịch vụ theo quy định của pháp luật; đƣợc thuê đƣờng truyền dẫn viễn thông để kết nối các hệ thống thiết bị viễn thông, các cơ sở, các điểm phục vụ của mình với nhau và với mạng viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông khác.2 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm cạnh tranh Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, thuật ngữ cạnh tranh đƣợc tiếp cận dƣới góc độ trong lĩnh vực kinh tế. Xét trong phạm vi này, nhiều quan điểm thống nhất chung rằng, mục đích cuối cùng của các bên tham gia cạnh tranh là nhằm thoả mãn tối đa lợi ích kinh tế, tức lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh biểu hiện thông qua các hoạt động kinh tế của con ngƣời, lợi nhuận là mục đích, động lực thúc đẩy hoạt động đó. Trong hầu hết trƣờng hợp, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi nhuận không phải mục đích cuối cùng.
Theo Các Mác [29, trang 87]: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh găy gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch. Theo Krugman (1994) [1, trang 35]: cạnh tranh chỉ ít nhiều phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới cận dưới ở đây rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì không trước thì sau sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản. Theo cuốn kinh tế học P.Samuelson [30, trang 77] cho rằng: cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần. Theo Michael Porter (1996) [27, trang 28], cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh trong khái 9 z niệm này không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam [25, trang 102] định nghĩa: Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi các quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Theo Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh - Việt định nghĩa [26, trang 77]: Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hoá tốt nhất. Các quan niệm trên tuy có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhƣng tựu chung lại thống nhất ở các đặc trƣng cơ bản sau: Cạnh tranh là mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau.
Chính sự tham gia nhiều chủ thể có cùng mục tiêu tạo lên môi trƣờng, sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp vì mục tiêu tồn tại, phát triển, tối đa lợi nhuận, gia tăng thị phần,… Các chủ thể cạnh tranh phải tuân thủ những quy định ràng buộc chung.