Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu Ở phần này, tác giả trình bày những vấn đề chung và tổng quan nhất về đề tài nghiên cứu như: Lý do chọn đề tài, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Ở phần này, tác giả giới thiệu chi tiết về Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu và chỉ số thuận lợi thương mại, cũng như những nghiên cứu hàn lâm xoay quanh chỉ số này. Qua đó, người đọc sẽ tiếp cận được những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu và nguồn gốc phát sinh nghiên cứu này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Phần này trình bày một cách chi tiết về cách thức mà tác giả thực hiện nghiên cứu.
Thông qua mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu và cách thức xử lý dữ liệu, tác giả sẽ chứng minh tính hợp lý và độ tin cậy của nghiên cứu này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Sau khi trình bày về phương pháp thực hiện nghiên cứu, Chương 4 sẽ dành để phân tích kết quả mà tác giả thu được sau nghiên cứu này. Phần này sẽ diễn giải và phân tích cụ thể ý nghĩa của các số liệu thống kê thu được qua mô hình nghiên cứu. 123doc 11 Chương 5: Kết luận Từ những kết quả nghiên cứu thu được ở Chương 4, tác giả sẽ đúc kết thành những ý nghĩa kinh tế của đề tài này.
Ở phần này, tác giả cũng tóm tắt lại toàn bộ nghiên cứu và chỉ ra những ưu, nhược điểm, đồng thời gợi ý cho những nghiên cứu tiếp theo. 123doc 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu 2. Giới thiệu chung về Báo cáo thuận lợi thương mại Toàn cầu Báo cáo Thuận lợi thương mại Toàn cầu (TLTMTC) là một bài báo cáo nghiên cứu được thực hiện và công bố bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), nhằm tổng hợp dữ liệu, đánh giá và xếp hạng mức độ thuận lợi của môi trường thương mại tại các quốc gia.
Báo cáo này còn cung cấp những phân tích chuyên sâu về môi trường thương mại cũng như những rào cản mà các quốc gia hoặc khu vực đang gặp phải. Qua đó, đây được xem như một công cụ hữu hiệu và là một cơ sở tham khảo toàn diện cho việc hoạch định chính sách. Nghiên cứu này được thực hiện mỗi hai năm một lần và được công bố rộng rãi trên trang web của WEF. Đến nay, đã có 6 báo cáo TLTMTC được công bố.
Mục tiêu và ý nghĩa của Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu 2. Mục tiêu Lợi ích từ việc tự do hoá thương mại toàn cầu đã được công nhận rộng rãi từ lý thuyết cho đến thực tiễn. Các quốc gia có thể tập trung nguồn lực cho sản xuất hàng hoá dịch vụ mà họ có ưu thế. Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn trong khi giá cả hàng hoá lại rẻ hơn.
Nguồn lực, cũng như tài nguyên được phân phối lại và sử dụng một cách hiệu quả hơn trên phạm vi toàn cầu. Những điều này đã được David Ricardo chứng minh trong học thuyết Lợi thế so sánh của ông. Mặc dù vậy, thương mại quốc tế vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản và thách thức to lớn. Nhận thấy tầm quan trọng và vai trò của thương mại trên phạm vi toàn cầu, WEF đã xây dựng báo cáo TLTMTC với mục tiêu nền tảng là nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy thương mại ở mỗi quốc gia (The World Economic Forum, 2008).10 10 (The World Economic Forum, 2008), trang xi 123doc 13 Dưới đây là những mục tiêu cụ thể mà tác giả tổng hợp được sau khi tham khảo các báo cáo TLTMTC: • Tổng hợp dữ liệu kinh tế - thương mại từ nhiều nguồn khác nhau của hơn 100 quốc gia.
• Tính toán Chỉ số Thuận lợi thương mại của các quốc gia. • Đánh giá, xếp hạng môi trường thương mại của hơn 100 quốc gia. • Phân tích chuyên sâu về môi trường thương mại và những điểm mạnh, cũng như hạn chế trong việc thúc đẩy thương mại của từng quốc gia và khu vực. • Đưa ra một số nhận xét, gợi ý mang tính khách quan và bao quát về môi trường thương mại của các quốc gia nhằm làm cơ sở tham khảo cho việc thúc đẩy thuận lợi thương mại toàn cầu.
Ý nghĩa Đối với những nhà lãnh đạo và điều hành kinh tế - thương mại của mỗi quốc gia: Báo cáo này cung cấp nhiều thông tin có giá trị cho việc hoạch định chiến lược cấp quốc gia, cũng như hoạt động điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi nước. Mỗi quốc gia có một cái nhìn tổng quát về vị trí hiện tại của mình cũng như những mặt mạnh/yếu, nhằm điều chỉnh chính sách thương mại sao cho phù hợp. Cụ thể, trong trường hợp của Việt Nam, báo cáo TLTMTC năm 2010 đã phản ánh một cách trung thực sự tiến bộ vượt bậc từ hạng 89 lên hạng 71 (tăng 18 bậc). Điều này đạt được là do sự kiện gia nhập WTO vào năm 2007 của Việt Nam giúp thương mại quốc tế của nước này tăng trưởng nhanh chóng.
Đồng thời, WEF cũng chỉ ra những mặt yếu kém mà Việt Nam cần gấp rút cải thiện, liên quan đến các lĩnh vực: Tính chất minh bạch trong việc quản lý cửa khẩu (hạng 104); Hệ thống giao thông (hạng 103); Mật độ sân bay (hạng 104); Chất lượng đường xá (hạng 95);…11 11 (The World Economic Forum, 2010), trang 23-24 123doc 14 Đối với các nhà đầu tư và thương nhân quốc tế: Trong bộ chỉ số của ETI năm 2016, có một chỉ số phụ về Môi trường hoạt động, mà trong đó, WEF đo lường và xếp hạng mức độ thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài của tại quốc gia. Vì vậy, báo cáo này giúp các nhà đầu tư và thương nhân quốc tế có một bức tranh tổng thể về môi trường kinh doanh toàn cầu, từ đó đánh giá và ra quyết định đầu tư phù hợp. Đối với nhà nghiên cứu: Dữ liệu do WEF tổng hợp từ nhiều tổ chức quốc tế lớn và uy tín.12 Do đó, độ tin cậy và chính xác về mặt số liệu khá cao. Báo cáo này được xem như một cơ sở dữ liệu thương mại đáng tin cậy, phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu về kinh tế - thương mại toàn cầu.
Những đánh giá và phân tích trong bài báo cáo được thực hiện bởi những chuyên gia hàng đầu về thương mại quốc tế của WEF và nhiều tổ chức cộng tác khác.12 Do đó, hàm lượng học thuật và tính hàn lâm trong báo cáo nghiên cứu này tương đối tốt. Đối với những công trình nghiên cứu thuộc cấp bậc Đại học, Cao học ở Việt Nam, đây có thể xem là một cơ sở tham khảo đáng tin cậy. Lịch sử hình thành và phát triển của báo cáo TLTMTC Báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu được WEF thực hiện và công bố lần đầu tiên vào năm 2008. Thời gian đầu, đây là một báo cáo thường niên, tức nó được hiện và công bố mỗi năm một lần.
Đến năm 2010, WEF quyết định sẽ thay đổi về kỳ thực hiện báo cáo. Từ đó, mỗi hai năm, báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu mới được công bố một lần.13 Tính đến thời điểm hiện tại, WEF đã công bố 6 báo cáo thuận lợi thương mại toàn cầu, lần lượt theo các năm: 2008, 2009, 2010, 2012, 2014, 2016. 12 (The World Economic Forum, 2016), trang v – vii 13 Theo (The World Economic Forum, 2016), trang 13 123doc 15 Cứ mỗi kỳ báo cáo, WEF và các chuyên gia lại cập nhật và thay đổi một số nội dung trong phương pháp luận nhằm đáp ứng phản hồi từ đọc giả khắp thế giới. Báo cáo này dần được hoàn thiện về cấu trúc cũng như phương pháp nghiên cứu.
Trong đó, trọng tâm của bài báo cáo, Chỉ số thuận lợi thương mại toàn cầu (ETI), là yếu tố được thay đổi thường xuyên nhất. Trải qua 6 kỳ báo cáo, chỉ số này được thêm, bớt các chỉ tiêu và thay đổi cấu trúc khá nhiều dựa trên các lý thuyết khoa học và phản hồi từ nhiều chuyên gia uy tín trên thế giới.1: Cấu trúc chỉ số ETI năm 2008 Nguồn: Báo cáo TLTMTC năm 2008, trang 8 Khi mới được xây dựng, ETI được tổng hợp từ 10 nhân tố (hay biến đo lường). Các nhân tố này được sắp xếp vào 4 nhóm (hay còn gọi là Chỉ số phụ) như sau (hình 2.1): Tiếp cận thị trường; Quản lý cửa khẩu; Cơ sở hạ tầng Thông tin và Vận tải; Môi trường kinh doanh. Việc sắp xếp này thể hiện các nhân tố được gom nhóm lại sao cho phù hợp với khía cạnh thúc đẩy thương mại mà chúng đo lường.
Ở mỗi nhân tố, bản thân chúng lại được đo lường bởi một số biến quan sát, mà số liệu 123doc 16 được WEF thu thập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau (các báo cáo uy tín trên thế giới, các bộ dữ liệu khảo sát,…). Phân tích một cách chi tiết, ETI năm 2008 được tổng hợp và đo lường bởi 40 biến quan sát (xem Phụ lục 1). Tính đến năm 2016, ETI đã thay đổi gần như hoàn toàn so với công bố đầu tiên trong báo cáo TLTMTC 2008. Chỉ số này hiện tại được cấu tạo từ 57 biến quan sát (xem Phụ lục 2), đo lường 7 chỉ số phụ (hay nhân tố) và được gom thành 4 nhóm (hình 2.2): Tiếp cận thị trường; Quản lý cửa khẩu; Cơ sở hạ tầng; Môi trường hoạt động.
Quá trình thay đổi của chỉ số ETI qua các kỳ báo cáo được thể hiện sơ lược ở hình 2.2: Cấu trúc chỉ số ETI năm 2016 Nguồn: Báo cáo TLTMTC năm 2016, trang 14 123doc 17 Bảng 2.1: Sơ lược quá trình thay đổi cấu trúc chỉ số ETI Năm báo cáo Cấu trúc ETI Sơ lược thay đổi • 4 nhóm 2008 • 10 chỉ số phụ • 40 biến quan sát • 4 nhóm 2 chỉ số phụ thuộc nhóm Tiếp cận thị trường • 9 chỉ số phụ là: Rào cản thuế quan và phi thuế quan; Độ • 54 biến quan sát mềm dẻo thương mại, được thay thế bởi Tiếp 2009 cận thị trường nội địa và quốc tế nhằm bao hàm cả khía cạnh xuất khẩu trong nhóm này (theo (The World Economic Forum, 2009), trang 9) • 4 nhóm Cấu trúc ETI năm 2010 hầu như không thay • 9 chỉ số phụ đổi so với năm 2009. Điểm duy nhất mà • 54 biến quan sát WEF điều chỉnh trong báo cáo này là cách thức tính ở chỉ số phụ Tiếp cận thị trường 2010 nội địa và quốc tế.